Tổng quan nghiên cứu

Khu vực miền Trung Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Trị nói riêng thường xuyên chịu tác động nặng nề của các hiện tượng thiên tai cực đoan, đặc biệt là lũ lụt và ngập úng diện rộng. Lưu vực sông Bến Hải nằm trong tọa độ từ 16°47’ đến 16°59’ vĩ độ Bắc và từ 106°38’ đến 106°58’ kinh độ Đông, bao gồm 44 xã thuộc 3 huyện Vĩnh Linh, Gio Linh và Cam Lộ với tổng dân số 162.092 người. Theo chuỗi số liệu thực đo từ năm 1977 đến năm 2000 tại trạm thủy văn Gia Vòng, trên lưu vực đã xuất hiện 110 trận lũ với tần suất trung bình 5,33 trận/năm. Đáng chú ý, lượng dòng chảy trong mùa lũ chiếm từ 70% đến 80% tổng lượng dòng chảy cả năm, tập trung cao điểm vào các tháng 9, 10 và 11 (chiếm 25% đến 31% lượng nước năm). Biên độ lũ dao động mạnh từ 2 mét đến 15 mét, kèm cường suất lũ dâng nhanh từ 4 cm/giờ lên tới 300 cm/giờ.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là sự phân bố không gian và mức độ tổn thương do ngập lụt tại các địa phương có sự khác biệt rất lớn, đòi hỏi phải có công cụ định lượng khoa học để hỗ trợ quy hoạch phòng chống thiên tai. Đề tài tập trung thử nghiệm và đánh giá chỉ số tính dễ bị tổn thương do lũ lụt (Flood Vulnerability Index - FVI) cho phạm vi trọng điểm gồm 22 xã, thị trấn ngập lụt trên lưu vực sông Bến Hải. Việc lượng hóa mức độ tổn thương theo thang điểm chuẩn hóa từ 0 đến 1 giúp chính quyền địa phương xác định chính xác các điểm nóng rủi ro, tối ưu hóa nguồn lực đầu tư công trình phòng lũ và nâng cao 100% khả năng chủ động ứng phó của cộng đồng trước bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng khung lý thuyết đánh giá tính dễ bị tổn thương của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC, 2001) và Viện Giáo dục Nước UNESCO-IHE. Theo đó, tính dễ bị tổn thương là một hàm số tổng hợp được cấu thành bởi 3 yếu tố nền tảng: Độ phơi nhiễm (Exposure - E), Tính nhạy (Sensitivity - S) và Khả năng phục hồi (Resilience - R). Độ phơi nhiễm đại diện cho mức độ tiếp xúc trực tiếp của con người và tài sản trước hiểm họa ngập lụt; tính nhạy phản ánh các đặc trưng nội tại về kinh tế, xã hội làm gia tăng mức độ thiệt hại; trong khi khả năng phục hồi biểu thị năng lực tự thích ứng, hạ tầng kỹ thuật và các biện pháp ứng phó của địa phương.

Bên cạnh mô hình chỉ số FVI truyền thống áp dụng cho 114 lưu vực sông toàn cầu của Connor & Hiroki (2005), luận văn phát triển chuyên sâu mô hình toán học của Balica (2007, 2012). Cấu trúc FVI của Balica tích hợp toàn diện 4 nhóm thành phần chính: Xã hội, Kinh tế, Môi trường và Vật lý. Mỗi nhóm thành phần được lượng hóa thông qua tỷ số giữa tích của độ phơi nhiễm với tính nhạy trên khả năng phục hồi. Chỉ số FVI tổng hợp của từng đơn vị hành chính là trung bình cộng của 4 chỉ số thành phần, phản ánh bức tranh đa chiều từ điều kiện tự nhiên đến năng lực quản trị rủi ro thiên tai.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa nguồn kết hợp giữa điều tra thực địa và mô phỏng số trị khí tượng thủy văn. Cỡ mẫu khảo sát xã hội học gồm 470 phiếu phỏng vấn hộ gia đình được thu thập từ đề tài khoa học BĐKH-19, phân bổ đại diện tại 22 xã thuộc vùng ngập lụt của lưu vực. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên có trọng điểm được áp dụng nhằm phản ánh chính xác nhận thức, điều kiện kinh tế và hạ tầng dân sinh. Dữ liệu không gian được trích xuất từ mô hình số độ cao (DEM) độ phân giải 30x30 mét của tỉnh Quảng Trị để phân loại 5 cấp độ dốc địa hình. Số liệu khí tượng thủy văn được thu thập từ 3 trạm quan trắc tiêu biểu: Gia Vòng, Đông Hà và Cửa Việt, kết hợp bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010 với 5 nhóm đất chính.

Từ bộ 73 tiêu chí gốc của Balica, tác giả đã sàng lọc và thiết lập bộ 34 tiêu chí đặc thù phù hợp với điều kiện thu thập số liệu cấp xã tại sông Bến Hải. Để xử lý các tiêu chí khác biệt về thứ nguyên, luận văn áp dụng 2 kỹ thuật chuẩn hóa: phương pháp Balica (chuẩn hóa về khoảng 0 đến 1 dựa trên giá trị cực đại) và phương pháp Connor & Hiroki (phân tách theo biến tỷ lệ thuận và biến tỷ lệ nghịch với tổn thương). Hệ thống trọng số của 34 tiêu chí được xác định hoàn toàn khách quan bằng thuật toán Iyengar - Sudarshan, trong đó trọng số tỷ lệ nghịch với phương sai của từng biến số nhằm loại bỏ định kiến chủ quan của chuyên gia. Cuối cùng, công nghệ Hệ thông tin địa lý (GIS) với phần mềm chuyên dụng ArcGis được ứng dụng để phân tích không gian và biên tập bản đồ phân vùng mức độ tổn thương tỷ lệ 1:25.000.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả tính toán chỉ số FVI tổng hợp cho 22 xã vùng ngập lụt sông Bến Hải theo phương pháp chuẩn hóa Connor & Hiroki đã phân cấp mức độ tổn thương thành 5 cấp bậc rõ rệt: Rất thấp, Thấp, Trung bình, Cao và Rất cao. Trong đó, các địa phương có chỉ số tổn thương cao nhất tập trung tại thị trấn Cửa Tùng với giá trị FVI đạt 0,71; xã Gio Châu đạt 0,69 và xã Trung Sơn đạt 0,63. Ngược lại, nhóm có mức độ tổn thương rất thấp gồm xã Vĩnh Thủy với FVI đạt 0,12; xã Vĩnh Long đạt 0,13 và xã Vĩnh Hòa đạt 0,17.

Xét theo từng nhóm thành phần, chỉ số FVI xã hội cho thấy sự phân hóa sâu sắc: 45% tổng số xã (10/22 xã) tập trung ở ngưỡng điểm 0,2 đến 0,3; trong khi 9% (2/22 xã gồm thị trấn Cửa Tùng và thị trấn Hồ Xá) có chỉ số tổn thương xã hội vượt trội do mật độ dân số đô thị quá đông đúc (thị trấn Hồ Xá đạt tới 1.674 người/km2). Đối với thành phần kinh tế, 41% số xã (9/22 xã) có FVI kinh tế nằm trong khoảng cao từ 0,6 đến 0,8; điển hình là các xã Gio Mai, Gio Châu và Gio Quang với điểm số tiếp cận ngưỡng 0,84 do tỷ lệ hộ nghèo và sinh kế phụ thuộc hoàn toàn vào nông nghiệp. Đối với thành phần vật lý và môi trường, các vùng hạ lưu chịu thời gian ngập lũ kéo dài từ 24 đến 67 giờ và độ sâu ngập cực đại vượt 3,52 mét ghi nhận mức độ phơi nhiễm vật lý cao nhất.

Thảo luận kết quả

Sự phân hóa mức độ tổn thương lũ lụt trên lưu vực sông Bến Hải chịu sự chi phối mạnh mẽ của mối tương tác giữa điều kiện địa hình, thảm phủ thực vật và cấu trúc hạ tầng kinh tế - xã hội. Hiện trạng rừng trên lưu vực sông Bến Hải cho thấy diện tích trảng cây bụi chiếm tỷ lệ áp đảo lên tới 68,38% (tương đương 194 km2), trong khi diện tích rừng tự nhiên giàu và trung bình chỉ chiếm vỏn vẹn 2,75% (7,802 km2). Tỷ lệ che phủ rừng chất lượng cao quá thấp làm suy giảm nghiêm trọng khả năng giữ nước đầu nguồn, khiến lũ tập trung nhanh về hạ du chỉ trong vòng 10 đến 24 giờ.

Dữ liệu tính toán khi được mô hình hóa qua bảng tổng hợp và biểu đồ phân cấp không gian cho thấy các vùng trũng thấp ven sông và dải đồng bằng ven biển (như Cửa Tùng, Trung Hải, Gio Mai) chịu tác động cộng hưởng của lũ sông và triều cường, khiến nước rút chậm kéo dài từ 2 đến 4 ngày. Khi so sánh với kết quả từ đề tài BĐKH-19 áp dụng công thức UNESCO-IHE, phương pháp Balica kết hợp trọng số Iyengar - Sudarshan mang lại độ nhạy cao hơn khi phản ánh đúng tính dễ bị tổn thương tại các khu vực đông dân cư có hạ tầng thoát nước yếu kém. Bản đồ phân vùng tổn thương thành lập qua GIS đã thể hiện trực quan các gam màu cảnh báo rủi ro, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho việc lập kế hoạch sơ tán dân cư trong mùa mưa bão.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả định lượng chỉ số FVI và phân tích không gian tổn thương, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm giảm thiểu rủi ro ngập lụt trên lưu vực sông Bến Hải:

Thứ nhất, nâng cấp và hiện đại hóa 100% hệ thống quan trắc, dự báo cảnh báo sớm khí tượng thủy văn tại 3 trạm đo trọng điểm (Gia Vòng, Cửa Việt, Đông Hà) cùng mạng lưới quan trắc tự động chuyên dùng. Mục tiêu là kéo dài thời gian dự báo sớm lên trước 24 đến 48 giờ. Thời gian thực hiện trong giai đoạn 2020 - 2025, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Trị chủ trì phối hợp với Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Trung Trung Bộ.

Thứ hai, triển khai kế hoạch phục hồi và trồng mới 150 km2 rừng phòng hộ đầu nguồn trên địa bàn các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh và Cam Lộ, hướng tới nâng tỷ lệ che phủ rừng giàu và trung bình từ 2,75% hiện tại lên mức tối thiểu 30% vào năm 2030. Đơn vị thực hiện là Chi cục Kiểm lâm và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Trị.

Thứ ba, kiên cố hóa 80% công trình nhà ở kết hợp chòi tránh lũ cho các hộ gia đình chính sách, hộ cận nghèo tại 3 địa phương có nguy cơ tổn thương cao nhất (Gio Châu, Trung Sơn, Cửa Tùng). Đồng thời tiến hành nạo vét, mở rộng khẩu độ thoát lũ cho hệ thống cống tiêu và luồng lạch hạ lưu trước năm 2025 dưới sự điều phối của Ủy ban nhân dân huyện Gio Linh và Vĩnh Linh.

Thứ tư, tổ chức định kỳ tối thiểu 2 khóa tập huấn thường niên về kỹ năng phòng chống, cứu nạn và bảo vệ nguồn nước sạch sau lũ cho 100% cộng đồng dân cư thuộc 22 xã vùng trũng. Thời gian triển khai liên tục từ năm 2021 đến 2030, do Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn tỉnh phối hợp với các tổ chức đoàn thể địa phương thực hiện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm sau:

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước và Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn các cấp tại tỉnh Quảng Trị. Các nhà hoạch định chính sách có thể khai thác trực tiếp bản đồ phân vùng FVI cho 22 xã và 44 đơn vị hành chính trên lưu vực để xây dựng phương án phòng thủ dân sự, lập kịch bản sơ tán dân cư sát với thực tế từng địa bàn.

Nhóm 2: Các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học thuộc chuyên ngành Thủy văn học, Biến đổi khí hậu, Quản lý tài nguyên và Môi trường. Tài liệu cung cấp quy trình phương pháp luận chuẩn mực trong việc rút gọn bộ 34 tiêu chí và áp dụng thuật toán tính trọng số Iyengar - Sudarshan để nhân rộng sang các lưu vực sông khác tại dải đất miền Trung.

Nhóm 3: Các tổ chức phi chính phủ (NGO) và tổ chức tài trợ quốc tế hoạt động trong lĩnh vực giảm nhẹ rủi ro thiên tai. Dữ liệu chi tiết từ 470 phiếu điều tra thực địa là cơ sở khoa học xác đáng để phê duyệt các gói viện trợ phát triển sinh kế bền vững và hạ tầng cấp nước sạch cho vùng ngập lụt.

Nhóm 4: Các đơn vị tư vấn thiết kế và quy hoạch không gian đô thị - nông thôn. Nguồn dữ liệu số hóa về độ dốc DEM 30x30 mét và độ sâu ngập lũ cực đại 3,52 mét hỗ trợ hiệu quả cho việc định hướng cao độ nền xây dựng công trình dân dụng và giao thông an toàn.

Câu hỏi thường gặp

Chỉ số tính dễ bị tổn thương do lũ lụt (FVI) được cấu thành từ những yếu tố cốt lõi nào? Chỉ số FVI được thiết lập dựa trên sự kết hợp giữa 3 yếu tố nền tảng (Độ phơi nhiễm, Tính nhạy, Khả năng phục hồi) và 4 nhóm thành phần toàn diện gồm Xã hội, Kinh tế, Môi trường, Vật lý. Mô hình này giúp định lượng chi tiết các khía cạnh tổn thương thông qua 34 tiêu chí thống kê và đo đạc thực địa.

Tại sao nghiên cứu lại tinh giản bộ tiêu chí gốc của Balica từ hơn 70 xuống còn 34 tiêu chí? Việc tinh giản dựa trên phân tích tương quan dữ liệu và tính khả thi khi thu thập số liệu cấp xã tại 22 địa phương ngập lụt sông Bến Hải. Tác giả loại bỏ các biến số trùng lặp hoặc khó khả thi ở cấp cơ sở như mực nước ngầm, thay thế bằng các chỉ số sát sườn như số người ngoài độ tuổi lao động và tỷ lệ hộ nghèo.

Thuật toán Iyengar - Sudarshan có ưu điểm gì vượt trội trong việc xác định trọng số? Thuật giải Iyengar - Sudarshan tính toán trọng số tỷ lệ nghịch với phương sai của 34 tiêu chí chuẩn hóa từ 470 phiếu điều tra và dữ liệu thống kê. Phương pháp này đảm bảo tính khách quan toán học tuyệt đối, loại trừ hoàn toàn các sai lệch do cảm tính chủ quan thường gặp ở phương pháp chuyên gia AHP.

Địa phương nào trên lưu vực sông Bến Hải có chỉ số tổn thương ngập lụt cao nhất và nguyên nhân do đâu? Thị trấn Cửa Tùng có chỉ số FVI cao nhất (0,71), tiếp sau là xã Gio Châu (0,69). Nguyên nhân chính là do Cửa Tùng có mật độ dân số cao, cơ sở hạ tầng ven biển dễ phơi nhiễm với triều cường và ngập lụt; trong khi Gio Châu có nền kinh tế phụ thuộc lớn vào nông nghiệp và tỷ lệ công trình kiên cố còn hạn chế.

Phương pháp chuẩn hóa của Connor & Hiroki khác biệt thế nào so với chuẩn hóa Balica? Chuẩn hóa Balica chỉ chia giá trị thực cho giá trị cực đại để đưa về thang điểm 0 đến 1 mà chưa phân biệt chiều tác động. Ngược lại, chuẩn hóa Connor & Hiroki phân tách rõ biến tỷ lệ thuận (làm tăng tổn thương) và biến tỷ lệ nghịch (làm tăng khả năng phục hồi), giúp kết quả FVI của 22 xã phản ánh chính xác bản chất rủi ro thiên tai.

Kết luận

  • Luận văn đã xây dựng thành công bộ 34 tiêu chí định lượng chỉ số tổn thương do ngập lụt (FVI) phù hợp với đặc thù tự nhiên và kinh tế - xã hội của 22 xã ngập lụt thuộc lưu vực sông Bến Hải.
  • Ứng dụng xuất sắc thuật giải toán học Iyengar - Sudarshan để xác định trọng số khách quan từ 470 phiếu điều tra thực địa kết hợp chuỗi dữ liệu thủy văn đa năm.
  • Phân cấp rõ nét bức tranh tổn thương thành 5 cấp độ với biên độ FVI dao động từ 0,12 (rất thấp tại xã Vĩnh Thủy) đến 0,71 (mức cao tại thị trấn Cửa Tùng).
  • Tích hợp thành công công nghệ GIS để xây dựng hệ thống bản đồ chuyên đề tỷ lệ 1:25.000, trực quan hóa mức độ tổn thương 4 thành phần phục vụ công tác quản lý rủi ro thiên tai.
  • Khẳng định tính hiệu quả và độ tin cậy của phương pháp Balica trong việc giải quyết bài toán đánh giá tính dễ bị tổn thương tại các lưu vực sông có nguồn dữ liệu cơ sở còn hạn chế.

Về định hướng tiếp theo giai đoạn 2025 - 2030, mô hình tính toán FVI cần được tiếp tục mở rộng thử nghiệm cho toàn bộ các lưu vực lân cận tại miền Trung kết hợp tích hợp các kịch bản biến đổi khí hậu mới nhất. Các cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác, ứng dụng ngay kết quả phân vùng FVI của luận văn vào công tác lập quy hoạch phòng thủ thiên tai và phát triển kinh tế bền vững cho địa phương.