Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương và những nghiên cứu trên lưu vực sông Bến Hải Chương 2: Các công thức tính toán chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ Chương 3: Thử nghiệm công thức Balica tính toán chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương cho vùng mưa lũ (có ngập lụt) lưu vực sông Bến Hải Kết luận, kiến nghị Tài liệu tham khảo 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƢƠNG VÀ NHỮNG NGHIÊN CỨU TRÊN LƢU VỰC SÔNG BẾN HẢI 1.Khái niệm chung về tính dễ bị tổn thƣơng Hiện nay, nghiên cứu tính dễ bị tổn thương đã được các nhà khoa học quan tâm trong nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau; ví dụ như nghiên cứu tính dễ bị tổn thương theo cách tiếp cận của ngành khoa học xã hội, khoa học tự nhiên; hay nghiên cứu tính dễ bị tổn thương dưới tác động của biến đổi khí hậu, sự phát triển bền vững, các hiểm họa thiên nhiên,… Do đó, các nhà khoa học đã đưa ra các khái niệm về tính dễ bị tổn thương theo nhiều cách khác nhau. Những năm gần đây, một vài định nghĩa về tính dễ bị tổn thương có thể kể đến như: theo Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu - IPCC (2001):“Tính dễ bị tổn thương là mức độ mà biến đổi khí hậu có thể gây tổn hại hay bất lợi cho hệ thống; khi đó nó không chỉ phụ thuộc vào độ nhạy của hệ thống mà còn phụ thuộc vào khả năng thích ứng của cộng đồng với điều kiện khí hậu mới” [14]. Có rất nhiều hướng nghiên cứu khác nhau nhằm phân loại các thành phần, yếu tố để đánh giá tính dễ bị tổn thương. Tuy nhiên, việc sử dụng các thuật ngữ liên quan đến tính dễ bị tổn thương giữa các ngành, lĩnh vực nghiên cứu vẫn còn nhiều tranh cãi trong các cộng đồng, các hướng nghiên cứu khoa học khác nhau.Trong ngành khoa học kinh tế - xã hội: Với cách tiếp cận của Ramade (1989) thì tính dễ bị tổn thương bao gồm cả con người và kinh tế - xã hội, liên quan đến khuynh hướng hàng hóa, con người, cơ sở hạ tầng, các hoạt động bị thiệt hại, sức đề kháng của cộng đồng.
Nhưng nghiên cứu đó lại không đề cập đến mặt tự nhiên, mức độ, tần suất xuất hiện của các hiện tượng thiên tai. Trong nghiên cứu gần đây trong lĩnh vực này đã giải thích tính dễ bị tổn thương của một hệ thống địa lý, vùng lãnh thổ là kết quả của các hoạt động, khả năng chống chịu khác nhau của xã hội, bối cảnh kinh tế và công nghệ không đồng nhất. Watts and Bohle (1993) [17] đã xem xét đến bối cảnh xã hội của các mối nguy hiểm và liên hệ tính dễ bị tổn thương xã hội đến khả năng phục hồi, chống chịu của cộng đồng. Tính dễ bị tổn thương được mô tả bởi tổ chức chiến lược và giảm nhẹ thiên 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tai thế giới (ISDR, 2004) [13] như là các điều kiện xác định bởi các yếu tố vật lý, xã hội, kinh tế và môi trường hay các quá trình, làm tăng tính nhạy của cộng đồng dưới tác động của thiên tai.
Trong cách tiếp cận của ngành khoa học xã hội, thì tính dễ bị tổn thương lại tập trung vào năng lực của con người để đối phó với mối nguy hiểm và kịp thời khôi phục lại các thiệt hại và những tổn thất. Cách tiếp cận này đòi hỏi ít kiến thức về hệ thống địa lý vì mục tiêu của nghiên cứu là giải thích các hành vi xã hội. Ngành khoa học tự nhiên có một điểm khác để giải thích tính dễ bị tổn thương do ảnh hưởng của BĐKH. Hội đồng quốc tế về biến đổi khí hậu (IPCC) đã phát triển các định nghĩa về tính dễ bị tổn thương qua nhiều năm.
Năm 1992, họ xác định tính dễ bị tổn thương như mức độ không có khả năng đối phó với những hậu quả của BĐKH và nước biển dâng. Năm 1996, SAR (báo cáo đánh giá lần 2) [15] đã xác định tính dễ bị tổn thương như mức độ mà BĐKH có thể gây tồn tại hay bất lợi cho hệ thống, không chỉ phụ thuộc vào độ nhạy của hệ thống mà còn phụ thuộc vào khả năng thích ứng của cộng đồng với điều kiện khí hậu mới. Được xem như những tác động còn lại của BĐKH sau khi các biện pháp thích ứng được thực hiện ( Dowing, 2005) [11]. Định nghĩa này bao gồm sự lộ diện, tính nhạy, khả năng phục hồi của hệ thống để chống lại các mối quy hiểm do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.
Trong những năm 1980 và đặc biệt trong những năm 1990 thì những nghiên cứu về mối quan hệ giữa các hoạt động con người và tác động của thiên tai theo chiều hướng tổn thương kinh tế xã hội đã tăng lên. Các định nghĩa về tính dễ bị tổn thương đã dần được cải thiện thể hiện một cái nhìn toàn diện của xã hội, liên quan đến lĩnh vực tự nhiên và kinh tế xã hội của hệ thống.Tổn thƣơng do lũ lụt Theo Nguyễn Thanh Sơn và cộng sự [5] khái niệm tính dễ bị tổn thương sử dụng dựa trên khái niệm của UNESCO-IHE “ Tính dễ bị tổn thương là mức độ gây hại có thể được xác định trong những điều kiện nhất định thông qua tính nhạy, sự tổn thất và khả năng phục hồi”. Để tăng cường tính ứng dụng trong của các nghiên cứu trong thực tế, đặc biệt 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là trong chủ động đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ thì Janet Edwards (2007) [16] đã đưa ra một khái niệm nữa là bản đồ tính dễ bị tổn thương do lũ “ là bản đồ cho biết vị trí các vùng nơi mà con người, môi trường thiên nhiên, của cải gặp rủi ro do các thảm họa có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như thiệt hại về người, gây ô nhiễm môi trường”. Ngoài ra, theo một số nghiên cứu khác định nghĩa: Khái niệm tính dễ bị tổn thương do lũ lụt là việc xem xét lựa chọn tiếp xúc, nhạy cảm và các tiêu chí đối phó của người dân trong khu vực nghiên cứu.
Phân tích các tiêu chí này cung cấp một cái nhìn sâu sắc vào các đặc tính dễ bị tổn thương của người dân bị ảnh hưởng và tác động với quản lý nguy cơ lũ lụt. Khi định lượng được tính dễ bị tổn thương của một vùng nào đó thì nó sẽ cung cấp những thông tin cần thiết hỗ trợ trong việc ra quyết định nhằm chống lại các mối nguy hiểm do lũ lụt gây ra mà xã hội phải hứng chịu. Định nghĩa được tính dễ bị tổn thương sẽ giúp ta biết được cách tốt nhất để giảm thiểu chúng. Mục đích của việc đánh giá tính dễ bị tổn thương nhằm cung cấp cho các nhà ra quyết định hay các bên liên quan về những lựa chọn nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của những mối nguy hiểm do lũ lụt.
Nghiên cứu tính dễ bị tổn thương nhằm đưa ra những hành động chính xác có thể làm giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra. Sự cần thiết của việc phân tích, đánh giá tính dễ bị tổn thương đã được trình bày trong nhiều tài liệu khoa học với các khái niệm bao gồm; tính dễ bị tổn thương tự nhiên, tính dễ tổn thương xã hội và những tổn thương kinh tế 1.Tổng quan về các nghiên cứu trong và ngoài nƣớc về tính dễ bị tổn thƣơng do lũ Ngày nay việc nghiên cứu các tác động của thiên tai tự nhiên như mưa lũ hết sức quan trọng. Nếu không có những chiến lược thích ứng thích hợp thì thiệt hại để lại do mưa lũ rất nghiêm trọng về rất nhiều các mặt của đời sống con người xã hội.Vì vậy việc nghiên cứu tính dễ bị tổn thương được các nhà khoa học tập trung nghiên cứu nhiều trong các lĩnh vực như: kinh tế - xã hội, môi trường, tự nhiên, thiên tai…Trong các năm gần đây các nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương do mưa lũ theo các cách tiếp cận khác nhau như: 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 Nghiên cứu ngoài nước Năm 2012, Dapeng Huang và cộng sự [10] đã nghiên cứu nhằm đánh giá tính dễ bị tổn thương lũ lụt cho 31 tỉnh của Trung Quốc. Trong nghiên cứu, tổn thương lũ lụt được đánh giá dựa trên số liệu thiệt hại lũ lụt và các số liệu thống kê về kinh tế, xã hội.
Các tiêu chí nhằm tính toán tính tổn thương trong nghiên cứu được chia làm 4 nhóm tổn thương. Tính dễ bị tổn thương dân số với các biến chủ đạo như tổng số dân, số dân bị ảnh hưởng bởi lũ lụt, thiên tai. Tính dễ bị tổn thương cái chết với biến như số lượng người chết,… Tính dễ bị tổn thương nông nghiệp có các biến về số lượng cây trồng bị ảnh hưởng, tỉ lệ diện tích cây trồng có bảo hiểm,… Tính dễ bị tổn thương kinh tế có các biến như thu nhập bình quân đầu người, tổng GDP,… Như vậy, trong nghiên cứu này, tác giả mới xét tới tính tổn thương nông nghiệp nhưng lại chưa xem xét tới sự tổn thương về công nghiệp hay sự tổn thương của cơ sở hạ tầng,…như vậy chưa thể hiện được toàn diện về tính dễ bị tổn thương lũ lụt. Popovici Elena-Ana,.
Andra Costache và cộng sự [12] đã nghiên cứu phát triển phương pháp và công cụ thích hợp để đánh giá tính dễ bị tổn thương lũ lụt của các cộng đồng nông thôn vùng đồng bằng Banat, Romania. Trong nghiên cứu này đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu định lượng (đánh giá tính dễ bị tổn thương đa tiêu chí, phát triển tiêu chí tính dễ bị tổn thương lũ lụt nông thôn và tiến hành bảng câu hỏi) và phương pháp nghiên cứu định tính (quan sát thực địa, phân tích và phát triển cơ sở dữ liệu,…). Chỉ số dễ bị tổn thương lũ ở nông thôn được đánh giá dựa trên sự tích hợp các dữ liệu về độ phơi nhiễm lũ (mức độ và xác suất xảy ra lũ), các dữ liệu kinh tế xã hội (số lượng người tàn tật, số lượng bác sĩ, học sinh, giáo viên, tỉ lệ thất nghiệp, thu nhập bình quân đầu người…), các dữ liệu sinh thái (khu vực tiếp xúc với ô nhiễm,…). Bên cạnh đó, các dữ liệu còn được thu thập từ kết quả của bộ câu hỏi về chủ đề liên quan tới tính dễ bị tổn thương tại địa phương (sự hiểu biết về sự thay đổi tần suất và cường độ của các hiện tượng cực đoan, những thông tin về lũ lụt và biện pháp chuẩn bị hay mức độ lo lắng về lũ lụt của người dân…).