MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Thành phố Lào Cai thuộc tỉnh Lào Cai là một trong những thành phố biên giới có vai trò rất quan trọng về kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng của vùng Trung du miền núi Bắc Bộ và cả nước. Giáp với tỉnh Vân Nam Trung Quốc, có cửa khẩu quốc tế Lào Cai là đầu mối giao thương gắn kết các tỉnh miền Bắc Việt Nam với Trung Quốc. Xã Cam Đường là một trong 5 xã ngoại thị của thành phố Lào Cai nằm ở phía Nam thành phố.
Xã thuộc vùng địa hình cao, nằm trong khu vực thung lũng sông Hồng. Do đặc điểm địa hình thấp trũng, có nhiều suối lớn nhỏ đặc biệt là nằm trong lưu vực suối Ngòi Đường nên rất dễ bị tổn thương trước những tác động của BĐKH. Hơn nữa, trong thời gian vừa qua, nền nhiệt độ của khu vực có xu hướng tăng nhanh, các hiện tượng khí hậu cực đoan xảy ra nhiều và mạnh hơn, đặc biệt những tai biến thiên nhiên về môi trường như lũ quét, lũ ống, sạt lở đất ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất của người dân, đồng thời gây nhiều sức ép trong phát triển kinh tế, xã hội tại địa phương. Tác động của BĐKH ngày càng rõ rệt, ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như phát triển kinh tế, du lịch, sức khoẻ nhân dân, đa dạng sinh học và môi trường sinh thái.Bên cạnh đó, quá trình đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, do tập quán canh tác nông nghiệp, khai thác tài nguyên, cháy rừng… làm ô nhiễm và suy thoái môi trường, góp phần làm thay đổi khí hậu của tỉnh cũng như của thành phố trong bối cảnh chung của BĐKH toàn cầu.
Từ những lý do trên, đề tài “Đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu trên địa bàn xã Cam Đường, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai” được thực hiện nhằm đánh giá đầy đủ ảnh hưởng, tính dễ bị tổn thương do BĐKH; năng lực thích ứng của nhóm cộng đồng và hệ thống cơ sở hạ tầng trên địa bàn xã Cam Đường, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Từ đó đề xuất các giải pháp giảm nhẹ tác động của BĐKH. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU - Đánh giá tính dễ bị tổn thương (DBTT) với BĐKH của xã Cam Đường. - Đánh giá khả năng thích ứng của các hệ thống cơ sở hạ tầng (giao thông, thủy lợi, công trình công cộng, nhà ở…) - Xác định các biện pháp phòng ngừa, ứng phó thảm hoạ và thích ứng với biến đổi khí hậu phù hợp dựa trên kết quả đánh giá của cộng đồng.
Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra kinh nghiệm thực tế phục vụ cho nghiên cứu sau này. - Vận dụng và phát huy kiến thức đã học tập và nghiên cứu. - Là báo cáo tốt nghiệp cho sinh viên.
- Là cơ sở, tài liệu cho các nghiên cứu khoa học về sau. - Nâng cao khả năng học tập, nghiên cứu và tìm tài liệu tham khảo. Ý nghĩa thực tiễn - Đề tài là cơ sở cho địa phương có những giải pháp để ứng phó với biến đổi khí hậu. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ BĐKH 2. Các hiểu biết cơ bản về BĐKH 2. Khái niệm a, Biến đổi khí hậu Theo công ước chung của Liên hợp quốc (LHQ) BĐKH là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý, hoặc ảnh hưởng đến các hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội, sức khoẻ và phúc lợi của con người. Biến đổi khí hậu là sự biến động trạng thái trung bình của khí quyển toàn cầu hay khu vực theo thời gian từ vài thập kỷ đến hàng triệu năm (IPCC,2007) b, Tính dễ tổn thương - Tính dễ bị tổn thương: đối với BĐKH là mức độ mà 1 hệ thống, đối tượng có thể bị tổn thương do tác động của BĐKH hoặc không có khả năng thích ứng với tác động bất lợi của BĐKH.
Mức độ phơi nhiễm X Độ nhạy cảm Tính dễ bị tổn thương = Khả năng thích ứng + Mức độ phơi nhiễm: là mức độ tiếp xúc với các rủi ro khí hậu. Mức độ phơi nhiễm phụ thuộc vào các yếu tố như: vị trí địa lý, dân số, giá trị tài sản … + Độ nhạy cảm: là mức độ dễ bị ảnh hưởng bởi các rủi ro khí hậu [1]. Nguyên nhân gây ra BĐKH a, Nguyên nhân gây ra BĐKH do tự nhiên. • Kiến tạo mảng Qua hàng triệu năm, sự chuyển động của các mảng làm tái sắp xếp các lục địa và đại dương trên toàn cầu đồng thời hình thành lên địa hình bề mặt.
n 4 Đều này có thể ảnh hưởng đến các kiểu khí hậu khu vực và toàn cầu cũng như các dòng tuần hoàn khí quyển - đại dương. Vị trí của các lục địa tạo nên hình dạng của các đại dương và tác động đến các kiểu dòng chảy trong đại dương. Vị trí của các biển đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát sự truyền nhiệt và độ ẩm trên toàn cầu và hình thành nên khí hậu toàn cầu. Một ví dụ về ảnh hưởng của kiến tạo đến sự tuần hoàn trong đại dương là sự hình thành eo đất Panama cách đây khoảng 5 triệu năm, đã làm dừng sự trộn lẫn trực tiếp giữa Đại Tây Dương và Thái Bình Dương.
Đều này có ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến các chế độ động lực học của đại dương của hải lưu Gulf Stream và đã làm cho bắc bán cầu bị phủ băng. Trong suốt kỷ Cacbon, khoảng 300 đến 365 triệu năm trước, hoạt động kiến tạo mảng có thể đã làm tích trữ một lượng lớn cacbon và làm tăng băng hà. Các dấu hiệu địa chất cho thấy những kiểu tuần hoàn "gió mùa lớn" (megamonsoonal) trong suốt thời gian tồn tại của siêu lục địa Pangaea, và từ mô hình khí hậu người ta cho rằng sự tồn tại của siêu lục địa đã dẫn đến việc hình thành gió mùa [2]. • Thay đổi quỹ đạo Những biến đổi nhỏ về quỹ đạo Trái Đất gây ra những thay đổi về sự phân bố năng lượng mặt trời theo mùa trên bề mặt Trái Đất và cách nó được phân bố trên toàn cầu.
Đó là những thay đổi rất nhỏ theo năng lượng mặt trời trung bình hàng năm trên một đơn vị diện tích; nhưng nó có thể gây biến đổi mạnh mẽ về sự phân bố các mùa và địa lý. Có 3 kiểu thay đổi quỹ đạo là thay đổi quỹ đạo lệch tâm của Trái Đất, thay đổi trục quay, và tiến động của trục Trái Đất. Kết hợp các yếu tố trên, chúng tạo ra các chu kỳ Milankovitch, là các yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến khí hậu và mối tương quan của chúng với các chu kỳ băng hà và gian băng, quan hệ của chúng với sự phát triển và thoái lui của Sahara và đối với sự xuất hiện của chúng trong các địa tầng [2]. • Hiện tượng núi lửa Núi lửa là một quá trình vận chuyển vật chất từ vỏ và lớp phủ của Trái đất lên bề mặt của nó.
Phun trào núi lửa, mạch nước phun, và suối nước nóng, n 5 là những ví dụ của các quá trình đó giải phóng khí núi lửa và hoặc các hạt bụi vào khí quyển. Phun trào đủ lớn để ảnh hưởng đến khí hậu xảy ra trên một số lần trung bình mỗi thế kỷ, và gây ra làm mát (bằng một phần ngăn chặn sự lây truyền của bức xạ mặt trời đến bề mặt trái đất) trong thời gian một vài năm. Các vụ phun trào của núi lửa Pinatubo vào năm 1991, là vụ phun trào núi lửa lớn thứ hai trên mặt đất của thế kỷ 20 (sau vụ phun trào năm 1912 của núi lửa Novarupta ảnh hưởng đến khí hậu đáng kể. Nhiệt độ toàn cầu giảm khoảng 0,5°C (0.
Vụ phun trào của núi Tambora năm 1815 đã khiến không có một mùa hè trong một năm. Phần lớn các vụ phun trào lớn hơn xảy ra chỉ một vài lần mỗi trăm triệu năm, nhưng có thể gây ra sự ấm lên toàn cầu và tuyệt chủng hàng loạt [2]. b, Nguyên nhân gây ra BĐKH do hoạt động của con người. Kể từ thời kỳ tiền công nghiệp (khoảng từ năm 1750), con người đã sử dụng ngày càng nhiều năng lượng, chủ yếu từ các nguồn nguyên liệu hóa thạch (than, dầu, khí đốt), qua đó đã thải vào khí quyển ngày càng tăng các chất khí gây hiệu ứng nhà kính của khí quyển, dẫn đến tăng nhiệt độ của trái đất.
Những số liệu về hàm lượng khí CO2 trong khí quyển được xác định từ các lõi băng được khoan ở Greenland và Nam cực cho thấy, trong suốt chu kỳ băng hà và tan băng (khoảng 18.000 năm trước), hàm lượng khí CO2 trong khí quyển chỉ khoảng 180 -200ppm (phần triệu), nghĩa là chỉ bằng khoảng 70% so với thời kỳ tiền công nghiệp (280ppm).800, hàm lượng khí CO2 bắt đầu tăng lên, vượt con số 300ppm và đạt 379ppm vào năm 2005, nghĩa là tăng khoảng 31% so với thời kỳ tiền công nghiệp, vượt xa mức khí CO2 tự nhiên trong khoảng 650 nghìn năm qua. Hàm lượng các khí nhà kính khác như khí mêtan (CH4), ôxit nitơ (N2O) cũng tăng lần lượt từ 715ppb (phần tỷ) và 270ppb trong thời kỳ tiền công nghiệp lên 1774ppb (151%) và 319ppb (17%) vào năm 2005. Riêng các chất khí chlorofluoro carbon (CFCs) vừa là khí nhà kính với tiềm năng làm nóng lên toàn cầu lớn gấp nhiều lần khí CO2, vừa là chất phá hủy tầng ôzôn bình n 6 lưu, chỉ mới có trong khí quyển do con người sản xuất ra kể từ khi công nghiệp làm lạnh, hóa mỹ phẩm phát triển. Đánh giá khoa học của Uỷ ban liên Chính phủ về BĐKH (IPCC) cho thấy, việc tiêu thụ năng lượng do đốt nhiên liệu hóa thạch trong các ngành sản xuất năng lượng, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng… đóng góp khoảng một nửa (46%) vào sự nóng lên toàn cầu, phá rừng nhiệt đới đóng góp khoảng 18%, sản xuất nông nghiệp khoảng 9% các ngành sản xuất hóa chất (CFC, HCFC) khoảng 24%, còn lại (3%) là từ các hoạt động khác.
Từ năm 1840 đến 2004, tổng lượng phát thải khí CO2 của các nước giàu chiếm tới 70% tổng lượng phát thải khí CO2 toàn cầu, trong đó ở Hoa Kỳ và Anh trung bình mỗi người dân phát thải 1.100 tấn, gấp khoảng 17 lần ở Trung Quốc và 48 lần ở Ấn Độ.