MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài luận án Nền kinh tế thị trường phát triển đã mở ra môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp (DN) nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức cho các doanh nghiệp nông nghiệp (DNNN) nói chung và doanh nghiệp chăn nuôi (DNCN) nói riêng. Để đứng vững trong cạnh tranh thì giá cả và chất lượng sản phẩm luôn là mối quan tâm hàng đầu của các DNCN. Từ việc cạnh tranh của các sản phẩm nông sản trong đó có sản phẩm chăn nuôi từ Trung Quốc và các nước trong khối Asean vào Việt Nam sẽ được hưởng mức thuế suất nhập khẩu ưu đãi 0% đã có những tác động lớn đến ngành chăn nuôi của nước ta.
Hơn nữa, hiện nay CPSX sản phẩm chăn nuôi của Việt Nam đang cao hơn một số nước có ngành chăn nuôi phát triển với những lý do chủ yếu là nguồn con giống, thuốc thú y, thức ăn chăn nuôi phải nhập khẩu với số lượng lớn, tính đến tháng 12 năm 2018 Việt Nam đã nhập khẩu khoảng 6,96 tỷ USD chi phí nguyên liệu và thức ăn chăn nuôi, số lượng lợn giống nhập khẩu 1.535 con tương ứng với trị giá hơn 2,3 triệu USD. Cùng với đó là quy mô chăn nuôi hiện nay chủ yếu là vừa và nhỏ chiếm hơn 50% sản phẩm chăn nuôi vì quy mô chăn nuôi nhỏ nên thường chịu rủi ro cao, không kiểm soát được dịch bệnh, kỹ thuật trong chăn nuôi, không am hiểu về an toàn thực phẩm. Vì thế, năng suất chăn nuôi của Việt Nam thấp chỉ bằng 30% so với Mỹ. Đứng trước những cơ hội và thách thức thì các DNCN ở Việt Nam cần có những cải tiến trong hoạt động chăn nuôi, tăng năng suất đàn vật nuôi, tiết kiệm chi phí trong chăn nuôi và hạ giá thành sản phẩm (GTSP) chăn nuôi để nâng cao khả năng cạnh tranh với các DNCN trong nước cũng như sản phẩm chăn nuôi của các quốc gia khác.
Các DNCN gia súc với những đặc thù trong sản xuất đó là nguyên vật liệu chính là thức ăn chăn nuôi chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí, sản phẩm chăn nuôi đa dạng với nhiều loại gia súc, vật nuôi khác nhau, có thể là những sản phẩm đơn lẻ hoặc sản phẩm song đôi, hoặc sản phẩm là từng giai đoạn của quá trình chăn nuôi, mỗi sản phẩm có đặc điểm sinh trưởng, quy luật sinh trưởng và phát triển riêng. Hơn nữa, các thông tin về xây dựng định mức, dự toán, phân tích và cung cấp thông tin về kế toán CPSX và GTSP trên góc độ kế toán tài chính (KTTC) và kế toán quản trị (KTQT) là một trong những nội dung trọng tâm trong công tác kế toán tại các DN sản xuất nói chung và DNCN nói riêng. Từ những vấn đề này cho thấy sự cần thiết phải thực hiện tốt công tác kế toán CPSX và GTSP của DNCN gia súc. luan an 2 Mặt khác, qua khảo sát thực trạng tại các DNCN gia súc hiện nay mới chỉ tập trung vào KTTC để phục vụ cho mục đích lập BCTC là chủ yếu.
Đồng thời, hệ thống kế toán CPSX và GTSP cung cấp thông tin phục vụ cho việc lập kế hoạch, kiểm soát và đánh giá việc lập kế hoạch trong nội bộ DN còn nhiều điểm hạn chế. Các DNCN hiện nay, chưa chú trọng việc lập dự toán, phân tích các chỉ tiêu và đánh giá mức độ cũng như hiệu quả của việc sử dụng các yếu tố chi phí đầu vào trong sản xuất với kết quả sản xuất thực tế đạt được, chưa quan tâm nhiều đến việc kiểm soát các công việc của kế toán CPSX và GTSP trên góc độ KTTC cũng như góc độ KTQT. Hơn nữa, việc vận dụng chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán trong việc thực hiện kế toán nói chung và kế toán CPSX và GTSP nói riêng của các DNCN hiện nay vẫn còn một số hạn chế nhất định, làm ảnh hưởng đến chất lượng công tác kế toán trong các DNCN gia súc. Cùng với đó, quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế và đạt được mục tiêu thống nhất hoạt động kế toán của các quốc gia trên thế giới.
Để từ đó, giúp nhà đầu tư, các công ty thuộc các đất nước khác nhau có thể xây dựng được hệ thống BCTC mang tính khuôn mẫu chung, giúp các DN đưa ra các quyết định đúng đắn, kịp thời. Vậy để đạt được mục tiêu này thì hệ thống kế toán của từng quốc gia phải không ngừng được hoàn thiện. Việt Nam hiện nay, với Luật kế toán và 26 chuẩn mực kế toán cùng với chế độ kế toán hiện hành đã phần nào đáp ứng và hội nhập với quốc tế. Tuy nhiên, việc vận dụng các quy định của chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) còn chọn lọc để phù hợp với điều kiện của đất nước nên đang có những hạn chế nhất định.
Trong đó tài sản sinh học (TSSH) và sản phẩm nông nghiệp thu được từ TSSH cho sản phẩm nhiều kỳ chưa được cập nhật và quan tâm đúng mức. Xuất phát từ những đặc thù của sản phẩm chăn nuôi, hoạt động chăn nuôi gia súc và thực tiễn kế toán CPSX và GTSP của các DNCN gia súc ở Miền Bắc Việt Nam (MBVN) nên nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài nghiên cứu là “Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại các doanh nghiệp chăn nuôi gia súc ở Miền Bắc Việt Nam” để từ đó đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện về kế toán CPSX và GTSP của các DNCN gia súc trong điều kiện hội nhập kinh tế hiện nay. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Thông qua quá trình phân tích và tổng hợp các tài liệu có liên quan để phục vụ cho nghiên cứu của luận án. Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước công bố về vấn đề kế toán CPSX, GTSP trên cả phương diện lý luan an 3 luận và thực tiễn.
Tác giả tổng quan các công trình nghiên cứu tiêu biểu trên một số phương diện của mỗi công trình như sau: 2. Các công trình nghiên cứu về nhận diện và phân loại chi phí sản xuất Việc nhận diện và phân loại chi phí để cung cấp thông tin cho nhà quản trị ra quyết định vô cùng quan trọng. Vì vậy, với mỗi một công trình nghiên cứu thuộc mỗi lĩnh vực nghiên cứu đều đưa ra một hoặc nhiều tiêu thức để nhận diện và phân loại chi phí nhất định. Các nghiên cứu tiếp cận việc nhận diện và phân loại chi phí trên góc độ KTTC hoặc KTQT.
Trong nghiên cứu của Eric John Wittenberg (2007) với đề tài “Michigan’s dairy profitability and enterprise accounting on dairy farms”. Tác giả đã đề cập việc nhận diện chi phí của 8 trang trại chăn nuôi bò sữa với chi phí được phân loại thành chi phí cố định và chi phí biến đổi. Ngoài ra, tác giả cho rằng chi phí thức ăn cho bò là một phần trong CPSX của sản phẩm sữa. Các chi phí khác không liên quan trực tiếp đến sản xuất thì không tập hợp vào CPSX của sản phẩm sữa [57].
Trong nghiên cứu của Trần Thị Dự (2012), tác giả nghiên cứu thực trạng trong 52 DN chế biến thức ăn chăn nuôi có thực hiện việc phân loại chi phí theo mục đích, công dụng. Tác giả cho rằng việc phân loại chi phí như vậy là phù hợp với yêu cầu của KTTC đồng thời thuận lợi cho việc vận dụng tài khoản kế toán để thực hiện công tác tập hợp chi phí và tính giá thành theo yêu cầu của KTTC. Ngoài ra, phân loại chi phí thành chi phí cố định và chi phí biến đổi cũng được tác giả đề cập và cho rằng việc phân loại tiêu thức này chưa được DN quan tâm [48]. Với nghiên cứu của Luca Cesaro and Sonia Marongiu (2008), nhóm tác giả cho rằng mặc dù mỗi trang trại có cơ cấu chi phí riêng vì tùy thuộc vào đặc điểm hoạt động chính nên có nhiều cách phân loại chi phí của một trang trại căn cứ vào các nội dung sau: (i) Căn cứ theo mối quan hệ của chi phí với đối tượng chi phí gồm chi phí trực tiếp và gián tiếp; (ii) Căn cứ theo mối quan hệ chi phí với mức độ hoạt động gồm chi phí biến đổi, chi phí cố định và chi phí hỗn hợp; (iii) Căn cứ vào kỳ hạn của chi phí gồm chi phí ngắn hạn, trung hạn và dài hạn (iv) Căn cứ vào cách nhận diện chi phí khác phục vụ cho việc ra quyết định gồm chi phí chênh lệch, chi phí chìm, chi phí cơ hội.
Đồng thời, các yếu tố chi phí trực tiếp được tập hợp trực tiếp tới đối tượng chịu chi phí là khách quan còn CP SXC cần được phân bổ cho các đối tượng và là yếu tố chủ quan vì phụ thuộc vào kỹ thuật phân bổ của kế toán [68]. Tác giả Magdalena Kludacz (2013), phân loại chi phí theo khả năng quy nạp chi phí vào đối tượng chịu phí. Trong đó, chi phí của DN được phân loại thành chi luan an 4 phí trực tiếp và chi phí gián tiếp. Trong nghiên cứu, tác giả cho rằng để tính toán được chi phí chung phân bổ cho từng đối tượng chịu chi phí cần phân bổ chi phí chung theo tỷ lệ chung định trước [74].
Trong nghiên cứu của Đặng Nguyên Mạnh (2018), từ kết quả khảo sát của 30 DN sản xuất gốm sứ tác giả tổng hợp được tiêu thức phân loại chi phí được DN sử dụng là phân loại chi phí theo chức năng, phân loại theo khả năng quy nạp chi phí vào đối tượng chịu chi phí. Tác giả nhận định rằng đây là những tiêu thức phân loại mang tính truyền thống và có tính kế thừa tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập hợp chi phí, tính giá thành và lập báo cáo CPSX [18]. Như vậy, từ các nghiên cứu này cho thấy chi phí được nhận diện với mục đích chủ yếu là lập dự toán, kiểm soát chi phí trong KTQT đồng thời cung cấp thông tin phục vụ cho KTTC trong các DN sản xuất thuộc một lĩnh vực, chưa đề cập đến DNCN, chưa thực hiện nhận diện chi phí xuất phát trên những đặc điểm đặc thù của DNCN với tiêu thức phân loại chi phí của DNCN như phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí, phân loại chi phí thành chi phí chăm sóc và chi phí thu hoạch trong DNCN. Để từ đó có thể tập hợp và xác định chính xác chi phí chăm sóc và chi phí thu hoạch đối với TSSH và sản phẩm nông nghiệp thu được từ TSSH.