CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN 1.1 KHOÁNG CORDIERITE 1.1 Khoáng cordierite tự nhiên. Cordierite trong tự nhiên tồn tại ở dạng các đá khoáng, nó có thành phần bao gồm Mg, Al, Si và một phần sắt và có công thức cấu tạo (Mg, Fe) 2Al4Si 5O18. Cordierite đƣợc miêu tả lần đầu năm 1801 bởi nhà khoáng vật học là Herr Kammerrath und Kammerjunker von Schlotheim dƣới cái tên Spanisch Lazulith. Khoáng này đầu tiên đƣợc phát hiện ở vùng Cabo de Gata, Tây Ban Nha.
Sau đó vài năm nó đƣợc Giáo sƣ A.Wener nói đến nhƣ một đơn khoáng với tên là Iolite. Đến năm 1809, Pierre Louis Antoine Cordier công bố kết quả nghiên cứu tỉ mỉ về khoáng, và gọi tên là dichroite. Và sau này tên Cordier đã đƣợc J. Lucas sử dụng đặt tên khoáng này là Cordierite vào năm 1813[1].
Cordierite tồn tại trong tự nhiên với các màu xanh dƣơng, xanh lá, tím xanh, nâu vàng, ghi và trong suốt. Có độ cứng khoảng 7-7,5 theo thang mohs, khối lƣợng riêng khoảng 2,57-2,6 g/cm3, chiết suất theo các trục khác nhau và tăng theo hàm lƣợng sắt, trong khoảng 1,53-1,57[2]. Hình ảnh khoáng cordierite tự nhiên đƣợc ứng dụng làm trang sức thể hiện ở hình 3. Hình 1 Khoáng cordierite tự nhiên (iolite), màu tím[3] GVHD: TS.Vũ Thị Ngọc Minh 3 Luận văn cao học HV: Nguyễn Văn Trung - Lớp CNVL Silicat 2015B Trong quá trình phát hiện và nghiên cứu về khoáng cordierite, có ba loại hình thái tinh thể đƣợc ghi nhận.
Trong đó loại phổ biến nhất là α – cordierite dạng lục phƣơng (hexagonal) ổn định ở nhiệt độ lớn hơn 830 oC. Hai dạng còn lại ít gặp hơn là β – cordierite ổn định ở nhiệt độ thấp hơn 830 oC và một trạng thái bán ổn định µ - cordierite hình thành trong quá trình kết tinh thủy tinh ở nhiệt độ dƣới 900 oC. Khoáng cordierite trong tự nhiên có cấu trúc tinh thể dạng trực thoi vòng silicat 6 cạnh (orthorhombic-pseudohexagonal) (hình 2). Hình 2 Cấu trúc tinh thể cordierite [4] Khoáng cordierite trong tự nhiên đƣợc dùng nhiều trong lĩnh vực trang sức, đá quý do màu sắc bắt mắt và phong phú.
Cordierite đƣợc tổng hợp thành công lần đầu vào năm1929 bởi Felix Singer và Willy M. Cohn đi từ 43% talc, 35% đất sét và 22% Al 2O3. Đây là hợp chất bậc ba đƣợc tạo ra từ hệ 3 cấu tử MgO - Al2 O3 - SiO 2. Hình 3 trình bày giản đồ trạng thái hệ 3 cấu tử MgO - Al2O 3 - SiO2.
[5] Theo đó, cordierite thuộc loại hợp chất bậc ba nóng chảy không tƣơng hợp (incongruence), điểm biểu diễn thành phần của cordierite không dƣới vùng phân chia lỏng - rắn cordierite mà nằm dƣới vùng phân chia lỏng - rắn mullite. Vì thế, khi trộn nguyên liệu ban đầu là các oxit MgO, Al 2O3 và SiO2 với tỷ lệ đúng với công thức phân tử của cordierite là 2MgO.5SiO2, rồi nung nóng chảy hoàn toàn hỗn hợp, thì điểm biểu diễn thành phần pha lỏng ứng GVHD: TS.Vũ Thị Ngọc Minh 4 Luận văn cao học HV: Nguyễn Văn Trung - Lớp CNVL Silicat 2015B với vị trí M ở trên giản đồ cũng trùng với điểm biểu diễn thành phần của cordierite. Khi làm nguội từ pha lỏng thì pha rắn kết tinh đầu tiên sẽ là tinh thể mullite. Điểm biểu diễn thành phần pha rắn ứng với vị trí A trùng với điểm biểu diễn thành phần của mullite.
Khi tiếp tục làm nguội từ từ hỗn hợp nóng chảy, mullite sẽ tiếp tục tách ra, do pha lỏng ngày càng nghèo Al 2O3 và giàu SiO2, nên điểm biểu diễn thành phần pha lỏng di chuyển từ vị trí M sang B. Khi điểm biểu diễn thành phần pha lỏng đạt vị trí B nằm ở biên giới phân chia giữa hai pha mullite và cordierite, thì pha rắn mullite sẽ bị tan trở lại vào pha lỏng để tạo thành cordierite, điểm biểu diễn thành phần pha rắn di chuyển từ vị trí A sang vị trí M. Khi điểm biểu diễn thành phần pha rắn đạt vị trí M, chất rắn thu đƣợc là cordierite tinh khiết.[6] Hình 3 Giản đồ pha hệ ba cấu tử.[5] Từ giản đồ hệ 3 cấu tử MgO-Al2O3-SiO2 , có thể thấy rằng quá trình hình thành tinh thể cordierite bằng phƣơng pháp kết tinh từ pha lỏng nóng chảy đi từ nguyên liệu là các oxit MgO, Al 2O3 và SiO2 xảy ra rất khó khăn. Nhiệt độ nóng chảy của hỗn hợp MgO, Al 2O3 và SiO2 có thành phần ứng với tỷ lệ hợp thức của cordierite khá cao (khoảng 1460o C).
Quá trình làm nguội pha lỏng phải đƣợc thực hiện rất chậm để tạo thuận lợi cho mullite tan hoàn toàn vào pha lỏng, tạo thành cordierite GVHD: TS.Vũ Thị Ngọc Minh 5 Luận văn cao học HV: Nguyễn Văn Trung - Lớp CNVL Silicat 2015B và nhƣ vậy thành phần pha tinh thể của sản phẩm sẽ là đơn pha α-cordierite. Nếu quá trình làm nguội xảy ra nhanh, pha rắn thu đƣợc sẽ đa pha và thành phần của nó sẽ bao gồm cordierite, mullite, spinel. Chính vì vậy, để nghiên cứu chế tạo vật liệu cordierite thì hƣớng nghiên cứu đƣa thêm phụ gia nhƣ ZrO2 để làm giảm nhiệt độ kết khối, mở rộng khoảng kết khối đƣợc tập trung.2 Tính chất vật liệu cordierite Tinh thể cordierite có nhiều đặc tính quý nhƣ có hệ số giãn nở nhiệt thấp, tổn thất điện môi nhỏ, bền cơ, bền hóa cao. Gốm cordierite có độ bền sốc nhiệt rất tốt, dễ tạo xốp nên đƣợc ứng dụng rất nhiều trong các ngành công nghệ mà có sự biến đổi rất nhanh về nhiệt độ nhƣ làm bộ lọc trong các động cơ, làm chất mang xúc tác, làm vật liệu lót trong công nghệ hàn hồ quang (Mig-Mag).
Khi vật liệu đƣợc gia nhiệt, các nguyên tử bên trong nhận năng lƣợng dao động. Sự dao động này làm thay đổi kích thƣớc vật liệu. Nếu sự thay đổi nhỏ, ít làm ảnh hƣởng tới tính chất cơ của vật liệu, nếu thay đổi lớn có thể phá hủy vật liệu. Vì vậy, hệ số giãn nở nhiệt đƣợc sử dụng để biểu diễn sự giãn nở của vật liệu theo nhiệt độ.
Hệ số giãn nở nhiệt đƣợc chia làm hai loại, bao gồm: Hệ số giãn nở nhiệt theo thể tích: sự thay đổi thể tích theo nhiệt độ Hệ số giãn nở nhiệt dài: sự thay đổi chiều dài theo nhiệt độ Đơn vị tính là là K-1. Tinh thể cordierite là vật liệu có hệ số giãn nở nhiệt nhỏ trong khoảng từ 25 đến 1000 oC chỉ vào khoảng 2-3x10-6/oC. Hệ số giãn nở nhiệt của gốm cordierite phụ thuộc vào trục tinh thể. Nó thể hiện hệ số âm theo trục c và dƣơng theo trục a.
Khi thiêu kết trong một khối thống nhất thì sự phát triển theo hai hƣớng sẽ dẫn tới sự cân bằng và hệ số giãn nở nhiệt của toàn khối rất thấp.Vũ Thị Ngọc Minh 6 Luận văn cao học HV: Nguyễn Văn Trung - Lớp CNVL Silicat 2015B Hình 4 Hệ số giãn nở nhiệt theo nhiệt độ[7] Khi vật liệu làm việc trong môi trƣờng có nhiệt độ thay đổi đột ngột. Gradient nhiệt độ trong bản thân vật liệu có sự chênh lệch lớn giữa bên trong và bên ngoài vật liệu. Điều này tạo ra một ứng suất bên trong vật liệu, dễ gây phá hủy vật liệu. Để đặc trƣng cho tính bền của vật liệu trong môi trƣờng có nhiệt độ thay đổi, độ bền sốc nhiệt đƣợc dùng.
Độ bền sốc nhiệt có thể đánh giá theo hai cách: Khoảng chênh lệch nhiệt độ lớn nhất mà vật liệu vẫn làm việc đƣợc (đơn vị là nhiệt độ) Tần suất làm việc ở một khoảng nhiệt độ (đơn vị là chu kỳ) Vật liệu có độ bền sốc nhiệt lớn tức là có khả năng làm việc ở môi trƣờng có sự thay đổi nhiệt độ lớn. Độ bền sốc nhiệt liên quan mật thiết đến hệ số giãn nở nhiệt của vật liệu. Vật liệu có hệ số giãn nở nhiệt lớn thì kém bền sốc nhiệt và ngƣợc lại. Tinh thể cordierite có hệ số giãn nở nhiệt nhỏ nên vật liệu có nguồn gốc từ cordierite có độ bền sốc nhiệt cao.
Cordierite có hệ số dẫn nhiệt cao 3.K nên gốm cordierite bền nhiệt khi có sự thay đổi nhiệt độ lớn.Vũ Thị Ngọc Minh 7 Luận văn cao học HV: Nguyễn Văn Trung - Lớp CNVL Silicat 2015B ôi Gốm cordierite có hằng số điện môi thấp khi ở nhiệt độ thƣờng, dao động từ 4,5- 5,4. Vì vậy gốm cordierite cách điện ở nhiệt độ thƣờng. Khi ứng dụng trong thực tế ngƣời ta còn quan tâm đến các tính chất nhƣ khối lƣợng thể tích, cƣờng độ uốn, cƣờng độ nén để lựa chọn, đánh giá chất lƣợng vật liệu gốm kỹ thuật. Dƣới đây là một số chỉ tiêu kỹ thuật của gốm cordierite do hãng Superior Technical Ceramics Corp.
sản xuất: Bảng 1 Chỉ tiêu kỹ thuật của gốm cordierite do hãng Superior Technical Ceramics Corp. sản xuất Phƣơng pháp Chỉ tiêu kỹ thuật Đơn vị Kết quả thử ASTM Màu sắc nâu-cam Khối lƣợng riêng C 20-97 g/cc 2,0 Độ cứng - Mohs 6 Độ hút nƣớc C 20-97 % 10 Cƣờng độ uốn F417-97 psi 9500 Cƣờng độ kéo - psi 2700 Cƣờng độ nén - psi 24000 Hệ số giãn nở nhiệt C 372-96 x10-6 /C 25-100 2,1 25-300 2,5 25-600 3,0 Hệ số dẫn nhiệt C 408 W/m.Vũ Thị Ngọc Minh 8 Luận văn cao học HV: Nguyễn Văn Trung - Lớp CNVL Silicat 2015B 1.2 KHOÁNG ZIRCON 1.1 Kim loại zircon và khoáng zircon tự nhiên[8] Kim loại zircon (Zr) có số hiệu nguyên tử 40, khối lƣợng nguyên tử 91. Zircon có cấu trúc tinh thể dạng hexagonal với các thông số mạng là a = 3,23A o và c = 5,15A o. Zircon lần đầu đƣợc phát hiện vào năm 1789 bởi M.
Nó đƣợc đặt tên zircon theo tên khoáng của ngƣời Ba Tƣ là Zargun. Đến năm 1824 lần đầu tổng hợp đƣợc kim loại zircon riêng biệt bởi nhà khoa học J. Trong tự nhiên, zircon tồn tại ở hai dạng khoáng, zirconsilicat (ZrSiO4) và baddeleyite (ZrO 2) .Các khoáng zircon trong tự nhiên chứa 0,5-2% hafnium và một lƣợng nhỏ các nguyên tố phóng xạ nhƣ urani và thori. Điều này làm thay đổi màu sắc của khoáng zircon nên chúng có màu khá đa dạng từ không màu đến xanh, vàng và nâu.
Bảng 2 Tính chất của khoáng zircon trong tự nhiên Công thức Kiểu tinh Khoáng Mật độ Độ cứng Màu cấu tạo thể Vàng, nâu, đỏ Zirconsilicat ZrSiO4 tetragonal 4,67 7,5 nâu, trong Beddleyite ZrO2i monoclinic 5,7-6,0 6,5 nâu đến đen Zircon oxit hay zirconia (ZrO2) có nhiệt độ nóng chảy rất cao trên 2700oC và độ dẫn nhiệt thấp. Cấu trúc tinh thể có tính biến đổi pha thù hình khi thay đổi nhiệt độ. Zirconia có ba dạng thù hình chính: Dạng đơn tà (m-ZrO 2) tồn tại trong khoảng nhiệt độ dƣới 1170o C; trong khoảng 1170-2370oC dạng thù hình chính ổn định là dạng tứ phƣơng (t-ZrO2); trên 2370 oC zirconia chuyển qua cấu trúc pha tinh thể lập phƣơng (c-ZrO2) ổn định [9].