Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cấu trúc, sinh lý da 1. Cấu trúc của da 1.1 Thượng bì Là lớp ngoài cùng của da, bao gồm chủ yếu là tế bào biểu mô sừng (keratinocyte) sử dụng tới 95%, ngoài ra còn tế bào sắc tố, tế bào bào Merkel và tế bào Langerhans. Thượng bì tác dụng như hàng rào bảo vệ da, gồm 4 lớp chính: tính từ ngoài vào trong là lớp tế bào sừng, lớp hạt, lớp gai, lớp đáy (lớp tế bào mầm).
Riêng lòng bàn tay, bàn chân có thêm 1 lớp sáng xen kẽ giữa lớp sừng với lớp hạt (5 lớp). Thượng bì dày khoảng 0,4-1,5mm tuỳ theo vị trí trên cơ thể (dày nhất ở lòng bàn tay, bàn chân, móng tay nhất ở mi mắt, vùng sinh dục). Thượng bì có các lớp sau: Lớp đáy Lớp tế bào đáy còn gọi là lớp tế bào cơ bản (tế bào đáy). Đây là lớp sâu nhất của thượng bì, gồm một hàng tế bào hình trụ, nhân có trục dài, thẳng đứng.
Nguyên sinh chất ưa kiềm chứa các hạt sắc tố melanin. Đây là lớp tế bào cơ bản làm nhiệm vụ sinh sản, đổi mới thượng bì. Các tế bào đáy có khả năng sinh sản mạnh mẽ, mỗi tế bào đáy sẽ phân chia thành 2 tế bào, trong đó 1 tế bào đáy sẽ đi lên các lớp trên, từ đó tế bào bào mới sẽ thay thế các tế bào cũ đã biệt hóa. Trong bào tương của lớp tế bào đáy bắt đầu sản xuất các sợi keratin rất mảnh giúp các tế bào liên kết với nhau một cách chắc chắn.
Thời gian cần thiết cho một tế bào đáy phân chia ,đặc biệt và di chuyển tới lớp sừng khoảng 14 ngày. Thời gian ở lớp sừng đến khi thành sắt da và bong ra khoảng 14 ngày nữa. Như vậy thời gian để tái tạo toàn bộ bì bì là khoảng 4 tuần. 4 Lớp tế bào gai Còn gọi là lớp nhớt Malpighi.
Là lớp tế bào hình đa diện, nằm trên lớp tế bào đáy, xếp từ 6 đến 20 hàng, càng về phía trên tế bào càng dẹt dần. Đây là những tế bào trưởng thành của biểu bì. Lớp gai được coi là một lớp quá trình hóa học của tế bào biểu mô. Các tế bào gai cũng có khả năng sinh sản bằng gián phân.
Hoạt động gián phân của lớp đáy và lớp gai đều mạnh mẽ và liên tục. Trong lớp tế bào gai còn có các tế bào tua di chuyển hay còn gọi là tế bào Langerhans Lớp tế bào hạt Là những tế bào bào nằm ở trên lớp gai bao gồm, 3-4 hàng tế bào, nhân sáng. Bề dày của lớp hạt dao phụ thuộc vào mức độ hóa hóa. Lớp hạt dầy ở những nơi có lớp sừng dầy.
Ở những nơi có sừng thì thường không có lớp hạt. Trong tế bào bào sản xuất rất nhiều hạt keratohyaline nên còn được gọi là lớp tế bào hột/hạt. Thành phần chủ yếu của các keratohyaline là tiền chất filaggrin và các lá keratin trung gian. Sự xuất hiện của các bằng chứng này trong quá trình xử lý hiện tại.
Trong quá trình chuyển dần từ tế tế bào thành tế bào sừng, các tiền chất filaggrin sẽ chuyển thành filaggrin và là thành phần chủ yếu của yếu tố dinh dưỡng tự nhiên (yếu tố giữ ẩm tự nhiên) và vỏ tế bào lớp sừng Lớp tế bào sáng Lớp này chỉ có ở lòng bàn tay, bàn chân và nằm ở trên lớp hạt, dưới lớp sừng bao gồm những tế bào bào trong, tĩnh nhất, không có nhân, dẹt, sắp xếp thành 2 hoặc 3 hàng. Các tế bào này chứa chất eleidin, hình thành do hoá hoá các hạt sừng trong chứa nhiều nhóm disulfid. Lớp tế bào sừng Lớp tế bào sừng là lớp ngoài cùng của da, có bề dầy khoảng 0,1mm; dày nhất là ở lòng bàn tay, lòng bàn chân từ 0,8-1,4mm, móng nhất là ở mi mắt, 50 μm. Đây là những tế bào có kích thước lớn nhất ở lớp thượng bì.
5 Thành phần chủ yếu là chất sừng (keratin). Quá trình sừng hóa diễn ra liên tục trợ giúp da luôn đổi mới. Quá trình này chịu ảnh hưởng của cả yếu tố bên ngoài môi trường và bên trong (gen, các yếu tố toàn thân). Thượng bì không có mạch máu và được nuôi dưỡng bằng dịch khu trú ở liên gian bào.
Các tế bào thượng bì có tua Thượng bì chưa hai loại tế bào có giả túc là tế bào hắc tố và tế bào Langerhans [1]. Trung bì Trung bì gồm các lớp Trung bì nông Là lớp nuôi dưỡng, rất mỏng chỉ khoảng độ 0,1mm. Trên bề mặt có những gai nhô lên còn gọi là nhú bì hay gai bì (papille) ăn sâu vào thượng bì. Các tổ chức liên kết gai do không được tạo nên ở đó có nhiều mao mạch.
Các nhú bì có chiều cao và độ lớn khác nhau tùy theo vùng da. Da ở da lòng bàn tay, bàn chân các nhú có khi cao tới 0,2 mm, ở da mặt thì lớp nhú rất mỏng. Trung bì chính thức hay còn gọi là trung bì sâu Đây là lớp chống đỡ, dày khoảng 0,4mm, gồm có: - Những sợi chống đỡ: sợi keo hay còn gọi là sợi hồ, sợi chun, sợi lưới, sợi liên võng. - Các chất cơ bản - Tế bào - Mạch máu 1.
Hạ bì Hạ bì (còn gọi là lớp mỡ dưới da) chứa mô liên kết, nhiều mạch máu, thần kinh đảm bảo cho da sống và thực hiện các chức năng của mình. Cấu hình gồm nhiều tầng nhiều ô, chứa nhiều chất mỡ. Ở hạ bì có nhiều mạch máu lớn. Độ dày của hạ bì tùy thuộc vào thể hiện của mỗi người.
Đây là kho dự trữ 6 mỡ lớn nhất của cơ thể, cú đánh có vai trò bảo vệ cơ học chống lại những sức ép, chấn động tắc; xem như cái gối che da và những cấu trúc bên dưới và có vai trò điều hòa nhiệt độ. Các thành phần phụ của da Tuyến mồ hôi, tuyến bã, nang lông, móng, niêm mạc [1]. Sinh lý da Da, cơ quan lớn nhất trong cơ thể người, có diện tích bề mặt khoảng 1,5 đến 2 mét vuông, chiếm 16% trọng lượng cơ thể. Da được coi là một trong những cơ quan quan trọng nhất của cơ thể, không chỉ là một vỏ bọc đơn giản mà cũng là một cơ quan có nhiều chức năng quan trọng bảo vệ cơ thể khỏi các chất gây hại về sinh học, lý học, hoá học.
Ngoài nhiệm vụ chở che, bảo vệ, da cũng mang chức năng hấp thu, dự trữ và chuyển hóa các chất, bài tiết các chất bảo vệ da (chất bã), đào thải các chất độc, thu nhận cảm giác, điều hoà nhiệt độ, cân bằng nôi môi. Da cũng có chức năng miễn dịch [1]. Các chức năng của da: - Chức năng bảo vệ: khỏi các chấn thương cơ học, các vi sinh vật, những tổn thương vật lý, tổn thương do chất hóa học và chống lại sự mất dịch của cơ thể. - Chức năng điều hòa thân nhiệt - Chức năng bài tiết: mồ hôi, chất bã.
- Chức năng chuyển hóa. - Chức năng thu nhận cảm giác. - Chức năng tạo sừng, tạo sắc tố. - Chức năng miễn dịch.
- Chức năng hô hấp. - Chức năng tạo ngoại hình và chủng tộc. - Sự liên quan giữa da và nội tạng [1]. Tổng quan về bệnh viêm da cơ địa theo y học hiện đại 1.
Thuật ngữ Với tổn thương lâm sàng đa dạng và thay đổi theo lứa tuổi nên bệnh đã được mô tả với nhiều tên khác nhau. Một số như “Chàm thể tạng”, “Chàm trẻ em”, “Sẩn ngứa Besnier” được dùng để chẩn đoán cho trẻ nhỏ, “Chàm nếp gấp”, “Lichen đơn giản mạn tính”, “Viêm da thần kinh” cho trẻ lớn và người lớn [8], [9]. Hay Coca và cộng sự dùng thuật ngữ atopy với nghĩa là “Lạc chỗ”, “tạng dị ứng”, “cơ địa dị ứng” để mô tả một số biểu hiện lâm sàng quá mẫn ở người, đặc trưng bởi hen, sốt cỏ khô và ban dạng chàm [8], [10]. Đến 1930, Sulzberger và cộng sự đã đề nghị dùng thuật ngữ Viêm da cơ địa (Atopic dermatitis) [8], [9].
Thuật ngữ VDCĐ hay còn gọi là chàm thể tạng được sử dụng phổ biến trên thế giới vì nó phù hợp với các biểu hiện lâm sàng, sinh bệnh học và tổ chức học [9]. Trên thế giới Trên thế giới, VDCĐ là một bệnh phổ biến ở các nước. VDCĐ còn được gọi là bệnh chàm thể tạng, là một tình trạng viêm da tái phát mãn tính [11]. Tỷ lệ mắc AD đã tăng gấp 2 đến 3 lần ở các quốc gia công nghiệp hóa, ảnh hưởng đến khoảng 15% đến 20% trẻ em và 1% đến 3% người lớn trên toàn thế giới [12].
Theo Schultz Hanifin, trong ba thập kỷ vừa qua tỷ lệ bệnh tăng lên gấp 3 lần [13]. Theo nghiên cứu gần đây, tại Trong một cuộc khảo sát cắt ngang trên toàn thế giới được thực hiện vào năm 1999, Nghiên cứu Quốc tế về Hen suyễn và Dị ứng ở Trẻ em đã báo cáo rằng, nhìn chung, tỷ lệ mắc bệnh VDCĐ ở trẻ em ở Châu Á cao hơn ở trẻ em ở Bắc Âu [6], với tỷ lệ AD ở Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản lần lượt là 1,2, 3,4 và 10,5%. Giai đoạn 8 III của ISAAC xuất bản năm 2009 cho thấy sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh AD ở trẻ em trong thập kỷ qua, đạt 10–20% ở nhiều nước công nghiệp đang phát triển ở Châu Á [14]. Trong nước Ở Việt Nam, tỷ lệ bệnh “Chàm” nói chung chiếm 25% tổng số các bệnh ngoài da [15].
Tại Bệnh viện Da liễu Trung ương từ năm 1995 – 2000 VDCĐ chiếm khoảng 4,2 % trong các bệnh da. Theo báo cáo của phòng khám Viện Da liễu quốc gia, có khi viêm da cơ địa chiếm khoảng 20% số bệnh nhân đến khám tại phòng khám [3]. Tỷ lệ mắc ngày càng tăng, từ những năm 1960, tỷ lệ mắc VDCĐ tăng 3 lần. Bệnh chiếm khoảng 10% dân số, trong đó VDCĐ trẻ em chiếm từ 10 – 20% , VDCĐ người lớn chiếm từ 1 – 3% dân số.
Tuổi phát bệnh: 60% xuất hiện trong năm đầu tiên, 30% ở trẻ < 5 tuổi, 10% ở lứa tuổi 6-20, bệnh hiếm khi bắt đầu ở tuổi trưởng thành. Nam hay gặp hơn nữ [16]. Cơ chế bệnh sinh Viêm da cơ địa là bệnh viêm da mãn tính phổ biến nhất. Những yếu tố như khuynh hướng di truyền, sự phá vỡ hàng rào biểu bì và rối loạn điều hòa hệ thống miễn dịch là một số căn nguyên quan trọng của VDCĐ.
Hàng rào bảo vệ da bị suy yếu có thể là bước đầu tiên trong quá trình phát triển bệnh dị ứng cũng như bệnh VDCĐ, dẫn đến tình trạng viêm da và mẫn cảm dị ứng nặng hơn.