Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong cơ cấu ngành chăn nuôi tại Việt Nam, chăn nuôi lợn giữ vai trò then chốt khi cung cấp trên 70% tổng sản lượng thịt tiêu thụ trên thị trường. Trong quy trình chăn nuôi lợn, số đầu lợn thịt thường chiếm từ 65% đến 80% tổng đàn, do đó hiệu quả kinh tế của toàn bộ quy trình phụ thuộc lớn vào chất lượng con giống ở giai đoạn lợn con. Giai đoạn từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi là thời kỳ lợn con có tốc độ phát triển nhanh nhưng các hệ cơ quan chưa hoàn thiện, khả năng thích ứng kém và sức đề kháng thấp. Đặc biệt, bệnh tiêu chảy là hội chứng bệnh lý phổ biến hàng đầu, có thể bùng phát thành dịch với tỷ lệ tử vong dao động từ 70% đến 100%. Những cá thể sống sót sau khi mắc bệnh thường bị còi cọc, giảm khả năng hấp thu và ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất tăng trọng ở các giai đoạn nuôi thịt thương phẩm tiếp theo.

Mặt khác, trong giai đoạn theo mẹ, nhu cầu sắt cho quá trình sinh trưởng và tạo máu của lợn con cần từ 7 đến 10 mg Fe/ngày, trong khi nguồn sữa mẹ chỉ đáp ứng được khoảng 1 mg Fe/ngày. Sự thiếu hụt này dễ dẫn đến tình trạng thiếu máu do thiếu sắt, làm suy giảm sức đề kháng và tăng mẫn cảm với vi khuẩn đường ruột. Việc lạm dụng kháng sinh trị liệu kéo dài gây ra hiện tượng nhờn thuốc, tồn dư kháng sinh và phá vỡ cân bằng vi sinh vật đường ruột. Do đó, việc ứng dụng các chế phẩm sinh học, vi lượng bổ sung như sắt kết hợp vitamin B12 nhằm kích thích tăng trọng và nâng cao sức đề kháng tự nhiên cho lợn con là vấn đề kỹ thuật có ý nghĩa thực tiễn.

Xuất phát từ thực tế trên, tác giả Phạm Văn Đậm đã thực hiện đề tài khóa luận nhằm giải quyết 3 mục tiêu cụ thể:

  1. Xác định ảnh hưởng của chế phẩm Ferrum - B12 trong kích thích sinh trưởng và phòng bệnh tiêu chảy ở lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi.
  2. Xác định hiệu quả kinh tế của việc sử dụng chế phẩm Ferrum - B12 trong chăn nuôi lợn con.
  3. Khuyến cáo với người chăn nuôi việc sử dụng chế phẩm Ferrum - B12 trong chăn nuôi lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi.

Nhiệm vụ nghiên cứu tập trung vào việc theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng tích lũy, sinh trưởng tuyệt đối, sinh trưởng tương đối, độ đồng đều về thể trọng, tỷ lệ cảm nhiễm tiêu chảy, tiêu tốn thức ăn trên mỗi kilôgam tăng khối lượng và chi phí thuốc thú y.

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn con lai F2 [Yorkshire × (Móng Cái × Yorkshire)] giai đoạn từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi.
  • Phạm vi không gian: Trại chăn nuôi lợn Điền Mừng, xã Yên Mỹ, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài được thực hiện trong thời gian 5 tháng, từ ngày 16/12/2013 đến ngày 31/5/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên các quy luật sinh học về sinh trưởng và phát dục của gia súc theo các công trình của Chavez (1985), Hammond (1972) và Trần Đình Miên (2004). Sinh trưởng được xác định là quá trình tổng hợp protein, tích lũy chất hữu cơ thông qua đồng hóa và dị hóa, làm gia tăng kích thước, thể tích và khối lượng mô cơ dưới sự điều hòa của các hormone nội tiết, đặc biệt là hormone sinh trưởng STH (Somatotropin) từ tuyến yên. Phát dục là quá trình biến đổi về chất, hoàn thiện hình thái và chức năng của các cơ quan.

Khóa luận nhấn mạnh đặc điểm sinh học của lợn con qua 3 thời kỳ khủng hoảng sinh lý:

  • Giai đoạn sơ sinh đến 1 tuần tuổi: Chuyển từ môi trường tử cung sang ngoại cảnh, cơ thể chưa tự điều tiết thân nhiệt hoàn chỉnh, hệ miễn dịch phụ thuộc hoàn toàn vào lượng kháng thể $\gamma$-globulin hấp thu qua ruột non trong 24 giờ đầu bú sữa đầu (đạt nồng độ khoảng 20,3 mg/100 ml máu).
  • Giai đoạn 3 tuần tuổi: Sản lượng và chất lượng sữa mẹ bắt đầu suy giảm nhanh chóng trong khi nhu cầu dinh dưỡng của lợn con tăng cao; hàm lượng sắt trong sữa mẹ không đủ cung cấp dẫn đến khủng hoảng dinh dưỡng và thiếu máu bần huyết nếu không tập ăn sớm.
  • Giai đoạn ngay sau cai sữa: Lợn con chịu stress nặng do thay đổi môi trường nuôi dưỡng và thức ăn hoàn toàn từ sữa sang thức ăn hỗn hợp.

Về cơ chế bệnh sinh, bệnh tiêu chảy ở lợn con gắn liền với sự non nớt của bộ máy tiêu hóa, dịch vị dạ dày có nồng độ acid hydrochloric tự do thấp, không đủ tiêu diệt vi khuẩn ngoại lai. Khi mất cân bằng hệ vi sinh đường ruột (vốn gồm các loài bắt buộc như Lactobacillus acidophilus, Streptococcus lactic), các vi khuẩn gây bệnh như Escherichia coli và Clostridium perfringens sẽ tăng sinh, tiết độc tố Enterotoxin gây viêm niêm mạc, ức chế tái hấp thu nước và chất dinh dưỡng, gây ỉa chảy cấp. Chế phẩm được khảo nghiệm là Ferrum - B12 do Công ty Marphavet sản xuất, chứa phức hợp Ferrum Dextran 20% kết hợp Cyanocobalamin (Vitamin B12 hàm lượng 55 mcg), có tác dụng cung cấp sắt hữu cơ cho quá trình tạo máu và kích thích chuyển hóa tế bào.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành theo quy trình chia lô so sánh cặp đôi tương đồng:

  • Quy mô mẫu: Tổng số 60 lợn con chia thành 2 lô đồng đều về giống, lứa đẻ của mẹ (lứa 3 đến lứa 5), thể trọng mẹ (130 - 160 kg) và khối lượng sơ sinh:
    • Lô Đối chứng (ĐC): 30 con (từ 3 ổ), khối lượng sơ sinh trung bình $1,20 \pm 0,01$ kg; nuôi theo khẩu phần cơ sở của trại, không tiêm chế phẩm Ferrum - B12.
    • Lô Thí nghiệm (TN): 30 con (từ 3 ổ), khối lượng sơ sinh trung bình $1,19 \pm 0,01$ kg; nuôi theo khẩu phần cơ sở và được tiêm bắp một liều duy nhất 2 ml Ferrum - B12/con vào thời điểm 5 ngày tuổi.
  • Chế độ chăm sóc và thức ăn: Cả hai lô dùng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh của Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam: thức ăn tập ăn mã 550 cho ăn tự do từ 7 đến 21 ngày tuổi; thức ăn mã 551 cho giai đoạn từ 21 đến 60 ngày tuổi. Khi lợn con bị tiêu chảy, cả hai lô áp dụng thống nhất một phác đồ: tiêm Colistin (1 ml/10 kg thể trọng/ngày), tiêm Vitamin C (1 ml/10 kg thể trọng/ngày) và cho uống Oresol (10 g/10 kg thể trọng/ngày).
  • Phương pháp theo dõi và thu thập số liệu: Khối lượng lợn con được cân định kỳ 15 ngày/lần vào buổi sáng trước khi ăn (tại các mốc: sơ sinh, 15, 30, 45 và 60 ngày tuổi) bằng cùng một loại cân. Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối ($A$) được tính theo công thức: $$A = \frac{W_2 - W_1}{t_2 - t_1} \quad (\text{g/con/ngày})$$ Tốc độ sinh trưởng tương đối ($R%$) được tính theo công thức: $$R% = \frac{W_2 - W_1}{(W_1 + W_2)/2} \times 100$$ Độ đồng đều của đàn lợn được đánh giá thông qua hệ số biến thiên ($Cv%$).
  • Phương pháp xử lý số liệu: Toàn bộ số liệu thu thập được xử lý thống kê sinh vật học trong chăn nuôi theo phương pháp của Nguyễn Văn Thiện (2002) bằng phần mềm Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Công tác phục vụ sản xuất

Nội dung phần này mô tả quá trình thực tập nghề nghiệp của tác giả tại Trại chăn nuôi lợn Điền Mừng (xã Yên Mỹ, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình). Địa bàn nghiên cứu có đặc trưng vùng đồng bằng, diện tích tự nhiên toàn xã là 473,89 ha, dân số 4.646 người, lượng mưa trung bình năm 1.920 mm, nhiệt độ trung bình từ 23°C đến 26°C. Trại lợn Điền Mừng được thành lập từ năm 2009, đến thời điểm khảo sát có diện tích 1,5 ha (khu chuồng trại chiếm 0,8 ha, thiết kế kiểu chuồng hở có bạt che mùa đông và hệ thống quạt mát mùa hè). Quy mô chăn nuôi duy trì thường xuyên 30 lợn nái ngoại Yorkshire, 300 lợn thịt và 1 đực giống lai hai máu Pidu dùng để khai thác tinh thụ tinh nhân tạo. Chỉ số sinh sản của đàn nái đạt 2,1 - 2,25 lứa/năm; số con sơ sinh bình quân 11,23 con/ổ; số con cai sữa đạt 9,46 con/ổ.

Về quy trình chăn nuôi, khẩu phần lợn nái chửa sử dụng cám C.P. mã 566 (tuần 1 đến 15, mức ăn 2 - 3 kg/con/ngày) và mã 567 (từ tuần 15 trở đi, mức ăn 3,5 - 4 kg/con/ngày). Lợn con sơ sinh được cắt rốn, bấm nanh, cắt đuôi, thiến đực lúc 6 ngày tuổi, tập ăn thức ăn C.P. mã 550 lúc 5 - 6 ngày tuổi và cai sữa ở giai đoạn 21 - 27 ngày tuổi.

Trong công tác thú y dự phòng, trại thực hiện quy trình sát trùng nghiêm ngặt: sau khi xuất chuồng, các tấm đan chuồng đẻ được ngâm dung dịch NaOH 10% trong 1 ngày, rửa sạch, phơi khô; nền và khung chuồng được khử trùng bằng dung dịch vôi xút và rắc vôi bột định kỳ. Lịch tiêm phòng vắc xin bắt buộc được triển khai cho lợn con (Respi-sure phòng suyễn, Coglapest phòng dịch tả lợn lúc 16 - 18 ngày, phó thương hàn lúc 28 ngày, lở mồm long móng lúc 42 ngày) và đàn nái (khô thai Parvo, dịch tả, giả dại Begonia, lở mồm long móng Aftopor).

Kết quả trực tiếp phục vụ sản xuất của tác giả tại trại được ghi nhận cụ thể:

  • Tiêm vắc xin phó thương hàn cho 144 lợn con, đạt tỷ lệ an toàn 100%.
  • Tiêm vắc xin lở mồm long móng cho 30 lợn nái, đạt tỷ lệ an toàn 100%.
  • Điều trị lâm sàng khỏi bệnh cho 2/2 nái mắc viêm tử cung (100%) bằng phác đồ Oxytoxin, Analgin và Vetrimoxin.
  • Điều trị khỏi bệnh cho 13/15 lợn con mắc phân trắng (86,67%) bằng Norfacoli.
  • Điều trị khỏi bệnh cho 53/65 lợn mắc tiêu chảy (81,54%).
  • Điều trị khỏi bệnh cho 76/82 lợn con mắc viêm phổi (92,68%) bằng Tylogenta, Vetrimoxin kết hợp Tiamuline.
  • Thực hiện bấm nanh, cắt đuôi an toàn cho 81/82 lợn con (98,7%).

Phần 2: Chuyên đề nghiên cứu khoa học

Chương này trình bày chi tiết kết quả thực nghiệm đánh giá khả năng sinh trưởng của lợn con F2 khi bổ sung chế phẩm Ferrum - B12.

Về sinh trưởng tích lũy, số liệu thực tế qua các chu kỳ cân định kỳ cho thấy sự gia tăng liên tục của thể trọng qua các giai đoạn tuổi ở cả hai lô, nhưng tốc độ gia tăng có sự khác biệt rõ rệt kể từ sau ngày tuổi thứ 15:

  • Lúc sơ sinh: Lô ĐC đạt trung bình $1,20 \pm 0,01$ kg/con; lô TN đạt $1,19 \pm 0,01$ kg/con, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê ($P > 0,05$).
  • Lúc 15 ngày tuổi: Lô ĐC đạt $3,91 \pm 0,07$ kg/con; lô TN đạt $4,01 \pm 0,06$ kg/con, cao hơn đối chứng 0,1 kg/con (tăng 2,56%).
  • Lúc 30 ngày tuổi: Lô ĐC đạt $7,64 \pm 0,08$ kg/con; lô TN đạt $7,96 \pm 0,05$ kg/con, cao hơn đối chứng 0,32 kg/con (tăng 5,85%).
  • Lúc 45 ngày tuổi: Lô ĐC đạt $12,84 \pm 0,09$ kg/con; lô TN đạt $13,50 \pm 0,07$ kg/con, cao hơn đối chứng 0,66 kg/con (tăng 5,14%).
  • Lúc 60 ngày tuổi: Lô ĐC đạt $18,02 \pm 0,10$ kg/con; lô TN đạt $19,07 \pm 0,09$ kg/con, cao hơn đối chứng 1,05 kg/con (tăng 5,83%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy rất cao ($P < 0,001$).

Về sinh trưởng tuyệt đối, tốc độ tăng khối lượng bình quân ngày ở cả hai lô tăng dần theo tuổi nhưng lô TN luôn đạt giá trị cao hơn:

  • Giai đoạn sơ sinh đến 15 ngày tuổi: Lô ĐC đạt 181 g/con/ngày; lô TN đạt 188 g/con/ngày (chênh lệch 7 g/con/ngày, tương đương tăng 3,87%).
  • Giai đoạn 16 - 30 ngày tuổi: Lô ĐC đạt 249 g/con/ngày; lô TN đạt 263 g/con/ngày (chênh lệch 14 g/con/ngày, tương đương tăng 5,62%).
  • Giai đoạn 31 - 45 ngày tuổi: Lô ĐC đạt 347 g/con/ngày; lô TN đạt 369 g/con/ngày (chênh lệch 22 g/con/ngày, tương đương tăng 6,34%).
  • Giai đoạn 46 - 60 ngày tuổi: Lô ĐC đạt 345 g/con/ngày; lô TN đạt 371 g/con/ngày (chênh lệch 26 g/con/ngày, tương đương tăng 7,53%).

Tác giả lý giải sự vượt trội về tăng khối lượng ở lô thí nghiệm bắt nguồn từ cơ chế tác động kết hợp của sắt dextran và vitamin B12. Giai đoạn sau 3 tuần tuổi, lượng sữa mẹ suy giảm cả về sản lượng lẫn hàm lượng vi lượng, nếu lợn con không được bù đắp sắt kịp thời sẽ rơi vào tình trạng thiếu máu dinh dưỡng, giảm hấp thu và chậm lớn. Việc tiêm chế phẩm Ferrum - B12 lúc 5 ngày tuổi đã giải quyết căn bản nhu cầu sắt dự trữ cho quá trình tạo hồng cầu và hoàn thiện hệ tiêu hóa, giúp lợn con duy trì nhịp độ sinh trưởng ổn định trong suốt giai đoạn cai sữa.

Kết quả và đóng góp

Dưới đây là bảng tổng hợp các chỉ tiêu theo dõi khả năng sinh trưởng tích lũy và sinh trưởng tuyệt đối giữa hai lô nghiên cứu:

Giai đoạn khảo sát Chỉ tiêu theo dõi Lô Đối chứng ($n=30$) Lô Thí nghiệm ($n=30$) Chênh lệch lô TN so với ĐC (%) Mức ý nghĩa ($P$)
Sơ sinh Khối lượng (kg/con) $1,20 \pm 0,01$ $1,19 \pm 0,01$ -0,83 $P > 0,05$
15 ngày tuổi Khối lượng (kg/con) $3,91 \pm 0,07$ $4,01 \pm 0,06$ +2,56 -
Tăng khối lượng (g/con/ngày) 181 188 +3,87 -
30 ngày tuổi Khối lượng (kg/con) $7,64 \pm 0,08$ $7,96 \pm 0,05$ +5,85 -
Tăng khối lượng (g/con/ngày) 249 263 +5,62 -
45 ngày tuổi Khối lượng (kg/con) $12,84 \pm 0,09$ $13,50 \pm 0,07$ +5,14 -
Tăng khối lượng (g/con/ngày) 347 369 +6,34 -
60 ngày tuổi Khối lượng (kg/con) $18,02 \pm 0,10$ $19,07 \pm 0,09$ +5,83 $P < 0,001$
Tăng khối lượng (g/con/ngày) 345 371 +7,53 -

Kết quả nghiên cứu đem lại các đóng góp cụ thể:

  • Hiệu quả sinh trưởng: Việc tiêm chế phẩm Ferrum - B12 liều lượng 2 ml/con vào ngày tuổi thứ 5 đã làm tăng khối lượng xuất chuồng lúc 60 ngày tuổi thêm 1,05 kg/con (đạt 19,07 kg so với 18,02 kg ở lô đối chứng), tương ứng mức tăng trưởng cao hơn 5,83% với độ tin cậy thống kê tuyệt đối ($P < 0,001$).
  • Độ đồng đều của đàn giống: Hệ số biến thiên ($Cv%$) về khối lượng của lô thí nghiệm tại các thời điểm 15, 30 và 45 ngày tuổi luôn duy trì ở mức thấp hơn lô đối chứng (lần lượt là 7,48% so với 9,72%; 3,64% so với 5,52%; 2,74% so với 4,05%), khẳng định việc bổ sung chế phẩm tạo điều kiện cho đàn lợn con phát triển đồng đều, hạn chế tỷ lệ lợn còi cọc.
  • Đóng góp so với nghiên cứu trước: So với các nghiên cứu sử dụng chế phẩm vi sinh đơn thuần (như chế phẩm Biosubtyl của Đỗ Trung Cứ hay EM của Cao Thị Hoa), nghiên cứu của Phạm Văn Đậm đã chứng minh hiệu quả bổ sung trực tiếp phức hợp khoáng vi lượng sắt hữu cơ nồng độ cao (20%) kết hợp Cyanocobalamin qua đường tiêm bắp đối với tổ hợp lợn lai F2 [Yorkshire × (Móng Cái × Yorkshire)], đưa ra thông số thực nghiệm đầy đủ về nhịp độ tăng trọng theo từng chu kỳ 15 ngày tại điều kiện chuồng trại hở ở miền Bắc.
  • Kiến nghị thực tiễn: Khuyến cáo các cơ sở chăn nuôi lợn áp dụng quy trình tiêm bắp 2 ml Ferrum - B12 cho lợn con ở thời điểm 3 - 5 ngày tuổi, kết hợp chặt chẽ với biện pháp cho tập ăn sớm từ ngày thứ 5 đến thứ 7 bằng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh chất lượng cao để lợn con vượt qua thời kỳ khủng hoảng lúc 3 tuần tuổi và sau cai sữa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn một số hạn chế nhất định xuất phát từ điều kiện sản xuất thực tế:

  • Phạm vi nghiên cứu thực nghiệm mới chỉ thực hiện trên cỡ mẫu 60 cá thể lợn con (30 con/lô) tại một cơ sở chăn nuôi đơn lẻ (Trại lợn Điền Mừng, Ninh Bình), chưa mở rộng trên nhiều hệ thống chuồng trại và điều kiện tiểu khí hậu chuồng nuôi khác nhau.
  • Thí nghiệm mới khảo sát một mức liều duy nhất của chế phẩm (tiêm bắp 2 ml/con lúc 5 ngày tuổi), chưa thiết kế các lô so sánh các mức liều khác nhau (như 1 ml hay 1,5 ml) hoặc phương thức tiêm nhắc lại hai lần (lúc 3 ngày tuổi và 14 ngày tuổi) để tìm ra liều lượng tối ưu nhất.
  • Thời gian theo dõi chỉ dừng lại ở mốc 60 ngày tuổi (kết thúc giai đoạn lợn giống sau cai sữa), chưa có dữ liệu theo dõi kéo dài trong suốt chu kỳ nuôi lợn thịt để đánh giá mức độ ảnh hưởng tồn dư của chế phẩm đến tốc độ vỗ béo và chất lượng thịt xẻ khi xuất bán.
  • Đề tài chưa thực hiện phân tích các chỉ tiêu sinh hóa máu lâm sàng (như định lượng số lượng hồng cầu, nồng độ hemoglobin, hematocrit trước và sau khi tiêm) mà chủ yếu đánh giá gián tiếp qua khối lượng cơ thể và biểu hiện lâm sàng.

Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung:

  • Mở rộng thử nghiệm trên các tổ hợp giống lợn lai ngoại chuyên nạc khác (như tổ hợp lai Landrace × Yorkshire, Duroc).
  • Bổ sung các chỉ tiêu xét nghiệm huyết học chuyên sâu nhằm làm sáng tỏ cơ chế sinh lý của phức hợp Ferrum - B12 đối với quá trình tạo máu.
  • Nghiên cứu so sánh hiệu quả giữa chế phẩm Ferrum - B12 dạng tiêm với các dạng chế phẩm bổ sung sắt qua đường uống hoặc qua thức ăn bổ sung cho lợn con.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận cung cấp nguồn thông tin thực tiễn hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y: Là tài liệu tham khảo chi tiết về phương pháp bố trí thí nghiệm chia lô so sánh trong chăn nuôi lợn con, phương pháp xác định và tính toán các chỉ tiêu sinh vật học định lượng (sinh trưởng tích lũy, sinh trưởng tuyệt đối, sinh trưởng tương đối, độ đồng đều $Cv%$) cùng các biểu mẫu sổ sách theo dõi đàn lợn nái và lợn con.
  • Cán bộ kỹ thuật và chủ trang trại chăn nuôi lợn: Vận dụng được quy trình thú y phòng bệnh tổng hợp, bao gồm quy trình sát trùng chuồng đẻ bằng xút NaOH 10% kết hợp vôi bột, quy trình đỡ đẻ, bấm nanh, cắt rốn, chăm sóc nái mang thai theo từng tuần chửa và phác đồ điều trị các bệnh truyền nhiễm, nội khoa thường gặp (phân trắng lợn con, viêm vú, viêm tử cung ở nái, viêm khớp, viêm phổi do Mycoplasma).
  • Phần nội dung đáng tham khảo nhất:
    • Bảng lịch tiêm phòng chi tiết cho từng đối tượng lợn (lợn con, lợn hậu bị, lợn nái chửa) với tên vắc xin, liều lượng, đường dùng cụ thể tại Bảng 1.2.
    • Phác đồ điều trị lâm sàng các bệnh viêm vú, viêm tử cung và tiêu chảy lợn con được mô tả chi tiết kèm liều lượng thuốc trợ lực, kháng sinh can thiệp.
    • Hệ thống dữ liệu thực nghiệm về nhịp độ sinh trưởng của con lai F2 [Yorkshire × (Móng Cái × Yorkshire)] tại Bảng 2.3 và Bảng 2.4.

Câu hỏi thường gặp

1. Chế phẩm Ferrum - B12 được sử dụng trong khóa luận có thành phần hóa học và liều lượng tiêm như thế nào?
Chế phẩm Ferrum - B12 do Công ty Marphavet sản xuất, có thành phần chính gồm phức hợp sắt Dextran (Ferrum Dextran 20%) kết hợp với Cyanocobalamin (Vitamin B12 hàm lượng 55 mcg) cùng dung môi và chất bảo quản vừa đủ. Trong thí nghiệm, chế phẩm được tiêm bắp sâu cho lợn con ở lô thí nghiệm với liều 2 ml/con vào thời điểm 5 ngày tuổi.

2. Khối lượng và tốc độ sinh trưởng tuyệt đối của lợn con ở lô thí nghiệm vượt trội hơn lô đối chứng như thế nào tại thời điểm 60 ngày tuổi?
Tại thời điểm 60 ngày tuổi, khối lượng bình quân của lợn con ở lô thí nghiệm đạt $19,07 \pm 0,09$ kg/con, cao hơn 1,05 kg/con so với lô đối chứng ($18,02 \pm 0,10$ kg/con), tương đương mức tăng 5,83% với độ tin cậy thống kê $P < 0,001$. Về sinh trưởng tuyệt đối ở giai đoạn 46 - 60 ngày tuổi, lô thí nghiệm đạt 371 g/con/ngày, cao hơn lô đối chứng 26 g/con/ngày (tăng 7,53%).

3. Theo cơ sở lý thuyết được trình bày trong khóa luận, lợn con trải qua những thời kỳ khủng hoảng sinh lý nào và nguyên nhân do đâu?
Lợn con trải qua 3 thời kỳ khủng hoảng chính:

  • Khủng hoảng sơ sinh (đến 1 tuần tuổi) do chuyển đổi môi trường tử cung sang ngoại cảnh và thiếu hụt miễn dịch tự tạo.
  • Khủng hoảng 3 tuần tuổi do sản lượng và lượng sắt trong sữa mẹ giảm sút trong khi nhu cầu dinh dưỡng cho tăng trọng tăng cao.
  • Khủng hoảng cai sữa do stress tách mẹ và chuyển đổi hoàn toàn sang thức ăn rắn do con người cung cấp.

4. Phác đồ điều trị bệnh tiêu chảy được áp dụng thống nhất cho đàn lợn con thí nghiệm tại trại gồm những loại thuốc nào?
Khi lợn con ở cả hai lô bị mắc bệnh tiêu chảy, phác đồ điều trị được chuẩn hóa gồm 3 loại thuốc: tiêm bắp kháng sinh Colistin liều 1 ml/10 kg thể trọng/lần/ngày; tiêm bắp Vitamin C liều 1 ml/10 kg thể trọng/lần/ngày nhằm nâng cao đề kháng; và cho uống dung dịch bù nước, chất điện giải Oresol liều 10 g/10 kg thể trọng/lần/ngày.

5. Kết quả điều trị thực tế các bệnh phổ biến trên đàn lợn tại Trại chăn nuôi Điền Mừng đạt tỷ lệ khỏi như thế nào?
Trong quá trình phục vụ sản xuất, tác giả đã phối hợp điều trị đạt tỷ lệ khỏi: bệnh viêm tử cung ở lợn nái đạt 100% (2/2 con); bệnh viêm phổi đạt 92,68% (76/82 con); bệnh phân trắng lợn con đạt 86,67% (13/15 con); và bệnh tiêu chảy lợn con đạt 81,54% (53/65 con).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Văn Đậm đã hoàn thành hai mảng công việc gồm phục vụ thực tế sản xuất tại trại lợn Điền Mừng và thực hiện chuyên đề nghiên cứu khoa học chuyên sâu về chế phẩm sinh học. Kết quả nghiên cứu chứng minh việc tiêm bắp 2 ml chế phẩm Ferrum - B12 cho lợn con lai F2 lúc 5 ngày tuổi có tác dụng rõ rệt trong việc kích thích sinh trưởng, nâng cao khối lượng xuất chuồng lúc 60 ngày tuổi thêm 5,83% ($P < 0,001$) và cải thiện độ đồng đều của đàn giống. Đề tài cung cấp các luận cứ khoa học và quy trình thực nghiệm tin cậy, đóng góp giải pháp kỹ thuật thiết thực cho công tác nâng cao năng suất và chất lượng lợn giống trong chăn nuôi nông hộ và trang trại hiện nay.