CHƯƠNG I: TÔNG QUAN 1. Tổng quan về công trình tiêu năng sau tràn xả lũ.1 Tình hình xây dựng công trình thủy lợi, thủy điện trên thê giới: Thủy điện là nguồn năng lượng sạch chiếm gần 1/5 sản lượng điện trên toàn thế giới. Trong thực tế nó đóng vai trò chủ yếu về việc cung cấp điện ở 55 quốc gia. Công suất lắp đặt thủy điện hiện nay khoảng 737,4 GW với tông điện lượng hang năm ước tính khoảng 2.767 TWh và có khoảng 118 GW công suất mới đang được xây dựng.
Đến nay gần 2/3 tiềm năng về thủy điện kha thi của thế giới chưa được khai thác. Song phạm vi khai thác ở các vùng lại khác nhau một cách đáng kể. Ở Châu Âu và Bắc Mỹ hầu hết tiềm năng thủy điện đã được khai thác hết, còn Châu Á, Châu Phi và Nam Mỹ nơi mà nhu cầu về nước và năng lượng là cấp thiết lai vẫn còn tiềm năng đáng kê chưa được sử dụng. Đề có được nguồn than đá trắng phục vụ cho tuốc bin phát điện, và điều tiết nước hợp lý cho hạ du vào mùa kiệt là cần thiết nên phải xây dựng các hồ chứa dé tích nước, đồng thời điều tiết lũ, giảm bớt ngập lụt đối với hạ lưu.
Ngoài dung tích nước cần thiết được giữ lại trong hồ, lượng nước dư phải xả xuống hạ lưu qua tràn xả lũ. Một dòng sông tự nhiên khi chưa được khai thác thì dòng chảy trong sông chuyển động theo quy luật thông thường, tốc độ của dòng chảy lũ thường là 2,50m/s ~ 3,0m/s, mực nước trên từng đoạn sông tương ứng với lưu lượng lũ đến, năng lượng của dòng chảy được tiêu hao theo tôn that doc đường do sức can của lòng dẫn và hai bờ; không có hiện tượng dòng chảy tập trung mạnh gây ra Phạm Phùng Thường 10 Luận văn thạc sĩ kỹ thuật sóng lớn dao động ở hai bờ va tác động đên độ dâng mực nước đôi với công trình giao thông ở đoạn hạ lưu sau đó. Song khi xây dựng hồ chứa va cụm công trình đầu mối đập dâng, đập tràn xả lũ, nhà máy thủy điện, âu thuyền, âu tàu vv. thì dòng chảy lũ được điều tiết trữ lại trong lòng hồ, tạo ra mực nước thượng hạ lưu trên đoạn sông có chênh lệch lớn mà ta gọi là Az (Z¡à- Z nạ), khi gặp các lũ lớn vượt quá lưu lượng điều tiết của hồ chứa, cần mở cửa đập tràn (cửa xả đáy hoặc cửa xả mặt) để tháo lưu lượng dư xuống lòng sông hạ lưu.
Phần lưu lượng này tập trung đồ xuống sau đập tràn bằng một trong hai hình thức đó là: - Nỗi tiếp theo dạng tiêu năng day; - Hoặc nối tiếp theo dạng tiêu năng dòng phun. Mà đối với hồ Sông Cái dùng hình thức này. Ở nước ngoài đập tràn xả lũ nối tiếp theo dang dòng phun có thé ké đến như đập Brack (Liên Xô cũ); được xây dựng từ năm 1960 với lưu lượng đơn vị thiết kế q= 30,5m°/s-m. Đập tràn có 10 khoang, mỗi khoang có chiều rộng b=18m, Q.¿ =5490m’/s, lưu tốc trên mũi phóng đạt Vinp= 35mỶ/s, bán kính cong cuối đập R =l5m, góc mũi hắt œ= 35°, thể hiện như hình 1-1.
Phạm Phùng Thường 11 Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Hình 1-1. Mặt cắt ngang đập tràn Brack. Hay như đập tràn công trình thủy điện Guri (Venezuela) công trình được xây dựng năm 1982 với lưu lượng đơn vị thiết kế q= 150m”⁄s-m. Chiều rộng tràn B=40m, lưu lượng xả Q=600mỶ /s.
Lưu tốc chảy trên mũi phóng Vinp= 4lm/s, đập có chênh lệch cột nước thượng hạ lưu Az = 130m; Mặt cắt ngang đập tràn Guri xem hình 1-2. Phạm Phùng Thường 12 Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Vĩ ng b? t«ng bPph, hoti } >» Hinh 1-2. Mat cat ngang dap tran Guri. Hay như mặt cắt đập tràn công trình thủy điện Tam Hiệp ở Trung quốc ( xem hình 1-3).
Công trinh này mực nước hồ Z¡¿ max= 175m, cao trình mũi hat Zmp = 85m, góc mũi hắt a= 27°50’; lưu lượng don vi thiét ké qE 174m?/s.m; mực nước tương ứng ở hạ lưu là Z¡¡= 77. Đập được xây dựng trên nền đá gốc granite, có ứng suất nén o= 1200kg/cm”; lưu tốc dòng chảy tại mũi hắt hmp= 5.10m; bán kính cong ngược ở cuối tràn chọn R= 24. Phạm Phùng Thường 13 Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Như vậy qua 3 công trình đập tràn nói tiếp tiêu năng dạng dòng phun nêu trên có hình dạng tương tự đập tràn xả lũ Hồ Sông Cái mà ở nước ngoài đã áp dụng. Tong quan tình hình xây dựng công trình tràn xả lũ tiêu năng dạng mũi phun ở Việt Nam ta.
Từ thập niên 80 của thế kỷ 20, ở nước ta bắt đầu xây dựng các công trình hồ chứa thủy lợi- thủy điện lớn như: - Dap tràn thủy điện Hòa Binh; - Dap tràn thủy điện Sông Hinh; - Dap tràn thủy điện Yaly; - Dap tràn thủy điện Tuyên Quang; - Dap tràn hé chtra Ta Trach; - Dap tran thủy điện Sơn La; - Dap tràn thủy điện Bản Vẽ; - Dap tràn thủy điện Ban Chat; - Dap tran hồ chứa thủy lợi — thủy điện Cửa Đạt, v. - _ Hồ Tả Trạch thừa Thiên Huế; Sắp tới xây dựng các công trình: - Đập tràn thủy điện Lai Châu; - Dap tràn hồ chứa Krong Pach Thượng Đắc Lắc; - Đập tràn Sông Cái tỉnh Ninh Thuận; - Dap tràn hồ chứa Ban Mong tỉnh Sơn La, wv. Phạm Phùng Thường 14 Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Trong việc bố trí đầu mối thủy lợi- thủy điện thì tràn xả lũ và van đề biện pháp tiêu năng sau tràn nhằm nối tiếp dòng chảy từ thượng lưu xuống hạ lưu có một vi trí quan trong; bởi lẽ hình thức tiêu năng được chọn thích hợp không chỉ giữ ôn định cho vùng chân đập tràn xả lũ mà còn không gây tác động xấu đến các công trình lân cận, ít gây xói lở đối với hai bờ hạ lưu sau công trình, cũng như tác động xấu đến cầu giao thông và các công trình dân sinh khác ở hạ lưu sau đập tràn.13 Tổng quan về hình thức tiêu năng phòng xói. Cách lựa chọn là dựa trên các điều kiện: - _ Điều kiện địa hình, địa chất, địa thé sau tran; - Điều kiện các yếu tố thủy lực xả lũ qua tràn, như lưu lượng đơn vị thiết kế xả qua tràn, lưu tốc dòng chảy ở cuối tràn hoặc mũi phun, mực nước hạ lưu tương ứng với lưu lượng xả; - Phuong thức vận hành tràn xả lũ.
Ở Việt Nam đập tran xả lũ tiêu năng dang mũi phun đã được áp dụng rat phd biến. Từ năm 1990 đến nay đã có 48 công trình tràn được xây dựng, trong đó có tới 25 công trình áp dụng dạng tiêu năng mũi phun chiếm tới 52%. Đặc biệt các công trình thủy lợi thủy điện lớn ngày nay xu hướng sử dụng tran xả lũ tiêu năng dạng mũi phun ngày một gia tăng chiếm tới 65% trong tổng số các công trình đã xây dựng và sẽ xây dựng. Với dạng tiêu năng mũi phun khi mà luồng chảy phóng xuống dòng sông hạ lưu, năng lượng mà dòng chảy nó mang theo cần được tiêu hao một cách tốt nhất khi dòng phun rơi vào hồ xói được đào trước (đào một phần hoặc đào cả) là để Phạm Phùng Thường 15 Luận văn thạc sĩ kỹ thuật tạo được lớp nước đệm đủ cho luồng chảy phóng xuống nối tiếp với mặt nước ở hạ lưu.
Năng lượng được tiêu hao tốt nhất, phần năng lượng dư ít gây xói lở, bào xói lòng dan hạ lưu, ít gây ra sóng dénh lan truyền vào hai bờ và đến các công trình lân cận, đến cầu giao thông bắc qua sông. Về phương thức dao hồ xói có hai cách thực hiện là: - Đào sâu một phan, tiếp đó khoan tơi dé khi vận hành xả lũ, dòng nước sẽ xói trôi lớp đá khoan tơi, dùng năng lượng dòng nước dịch chuyên chúng rải ra trên bãi và lòng sông hạ lưu. Cách này đã được thực hiện ở hồ tiêu năng sau tran xả lũ thủy điện Hòa Binh; - Căn cứ vào lý thuyết tính toán khả năng dòng phun sẽ xói sâu dé dao sẵn hồ xói đến cao trình dự kiến, nhằm tạo đủ lớp nước đệm ứng với lưu lượng thiết kế tiêu năng và được kiểm tra ứng với lưu lượng xả lũ thiết kế. Hai cách thực hiện trên, moi cach có uu điêm, nhược điêm riêng, tác giả sé phân tích trong chương 4 của luận văn này đông thời đưa ra ý kiên của mình khi vận dụng một trong hai cách trên.
Vì vậy khi thiết kế tràn xả lũ tiêu năng theo dạng dòng phun (dòng phun từ mũi hắt cuối đập tràn với đập bồ trí ở giữa dòng sông, hay dòng phun từ cuối dốc nước khi đập tràn bố trí ở bên bờ) cần phải chú đến việc tính toán là: - Chon hình dạng mũi phun: dùng mũi phun liên tục hay mũi phun dang so le; - _ Với mũi phun liên tục thì nên chọn góc hắt a thích hợp dé có được dòng phun xa nhất, nghĩa là với dang mũi phun đó ta có chiều dài dòng phun Linax và góc tới (góc đồ vào mặt nước hạ lưu B) thích hợp. (Hình 1-3 và 1-4) Phạm Phùng Thường 16 Luận văn thạc sĩ kỹ thuật ~_ Với mũi phun so le (mũi phun hai tang) thi cin chọn góc hắt của rãnh va sóc hắt của răng phun thích hợp (Xem hình 1-5); -_ Dựa vào lý thuyết dé tính chiều dai phun xa Lmax và Lmin dé xác định tim va kích thước hồ xói khi đã định chọn góc hắt œ ứng với các tham số tính. toán thủy lực Vgps dps Qus AZ của công trình trần xã lũ mà ta đang nghiên cứu (Trong luận văn này là tràn xả lũ Hỗ Sông Cái) ~ - Dựa vào tai liệu địa chất ở chân công trình và lòng sông sau công trình để tính toán ước tinh chiều sâu hồ x6i; ~_ Dựa vio tink hình địa hình đoạn sông sau đập tn, wu giao thông, các công trinh kiến trúc dn sinh khác hai bên bờ hạ lưu sau đập trần xa lũ để xác định phương thức dao sâu hỗ x« tránh các ảnh hưởng xấu đến các công trình kể trên nhằm tránh mọi tổn hại đến các công trình đó. Đây mới là quan điểm xem xét toàn cục, tránh phiến diện dé gây ra hiệu quả xấu sau này.
Pham Phùng Thường 7 Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Pham Phùng Thường 18 Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Về giá trị góc hắt a của mũi phun liên tục thường được chọn từ 25° đến 35°, qua tài liệu nghiên cứu thấy rằng góc hắt a = 25° là tốt hơn so với a = 35°.