Chương 1: GIỚI THIỆU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Hiện nay trên thị trường các loại tinh dầu được chế biến từ cái loại hoa rất đa dạng như tinh dầu hoa hồng, tinh dầu hoa anh thảo, tinh dầu hoa hướng dương,. Bên cạnh đó vẫn còn có nhiều nguyên liệu tự nhiên có nhiều công dụng lại rẻ tiền nhưng vẫn chưa được tận dụng như hoa đậu biếc. Nguyên nhân mà hoa đậu biếc vẫn chưa được sử dụng phổ biến để chế biến ra tinh dầu là do trong quá trình chưng cất không tạo được mùi thơm hấp dẫn người tiêu dùng. Do đó, khi chế biến cần phải tính toán được thời gian và nhiệt độ phù hợp để giữ được màu sắc, mùi thơm đặc trưng và thành phần dinh dưỡng bên trong của hoa đậu biếc.
Đậu biếc là thực phẩm dễ kiếm, dễ bảo quản, dễ sử dụng và đặc biệt là mang lại rất nhiều lợi ích cho sức khỏe con người. Đậu biếc có công dụng tốt cho trí não đây là một trong những công dụng có giá trị mà loài hoa này mang lại, tính đến nay thì có rất ít loại thảo dược làm được điều này, giúp lợi tiểu, làm đẹp da, tốt cho sức khỏe. Không những thế, đậu biếc còn có tác dụng chữa bệnh rất hiệu quả (Phạm Thị Như Ý, 2021). Trong công nghệ chế biến thực phẩm, hoa đậu biếc được coi là nguyên liệu tạo màu tự nhiên, an toàn.
Người ta dùng hoa đậu biếc làm trà, tạo ra màu nhuộm cho các loại bánh, nấu chè, nước ép trái cây, nấu món ngon mỗi ngày. Ngoài ra, còn cho chúng vào những món xào để tăng màu sắc bắt mắt, kích thích vị giác người ăn. Thay vì phải dùng phẩm màu hóa học, chỉ cần 2 đến 3 lá hoa, hãm với nước ấm đã đủ tạo ra một loại nước có màu xanh đẹp đẽ. Cây hoa đậu biếc có nguồn gốc từ khu vực Đông Nam Á, những vùng khí hậu nhiệt đới, có khí hậu nóng ẩm.
Người dân thường dùng hoa đậu biếc để chế tạo phẩm nhuộm. Ở Ấn Độ, rễ cây hoa đậu biếc còn là một thảo dược quý giúp điều trị bệnh tật theo cách dân gian của họ. Việc “Nghiên cứu chế biến tinh dầu hoa đậu biếc” là một phương pháp rất hiệu quả để tạo nên sản phẩm mới có mặt trên thị trường, tận dụng nguồn hoa đậu biếc ở địa phương trên cơ sở làm bán thành phẩm cho các sản phẩm chế biến và có thể kết hợp những nguyên liệu khác tạo ra sản phẩm tốt cho sức khỏe con người. Trên thực tế hiện nay sản phẩm dầu hoa đậu biếc chưa được biết đến và chưa được dụng phổ biến trên thị trường.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU: Tìm ra quy trình thu hồi tinh dầu từ hoa đậu biếc hiệu quả nhất.
Tận dụng nguồn hoa đậu biếc có sẵn ở địa phương trên cơ sở làm bán thành phẩm cho các sản phẩm thực phẩm khác, có thể kết hợp với những nguyên liệu khác tạo ra sản phẩm tốt cho sức khỏe con người.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU: Thí nghiệm 1: Khảo sát ảnh hưởng nhiệt độ của thời gian chưng cất đến hiệu suất thu hồi tinh dầu hoa đậu biếc. Thí nghiệm 2: Khảo sát khả năng bảo quản sản phẩm tinh dầu hoa đậu biếc.4 TÍNH MỚI CỦA NGHIÊN CỨU Đề tài “Nghiên cứu chế biến tinh dầu hoa đậu biếc” góp phần tạo ra một sản phẩm mới cho thị trường Việt Nam tinh dầu được thu hồi từ hoa góp phần bổ sung vào các sản phẩm chế biến thực phẩm và hóa mỹ phẩm. Nâng cao giá trị sản phẩm và mang lại lợi nhuận kinh tế, giải quyết được vấn đề hoa đậu biếc mọc lãng phí khắp nơi. 2 Chương 2: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 TỔNG QUAN VỀ NGUYÊN LIỆU: 2.1 Tổng quan về hoa đậu biếc Hoa đậu biếc Tiếng Anh là blue pea flower, butterfly pea flower hoặc blue bellvine flower.
Cây có nguồn gốc từ Đông Nam Á và thường được trồng làm cảnh. Ngoài ra, các bộ phận của cây đậu biếc cũng được biết đến có công dụng chữa bệnh. Hình 1: Hoa đậu biếc Loài hoa này có màu xanh biếc hoặc xanh tím rất bắt mắt, đây cũng là một trong những lý do mà chúng được gọi tên là “hoa đậu biếc”. Thân cây đậu biếc rất mềm, có thể leo dọc các bờ rào và có rất nhiều nhánh nên có độ che phủ rất rộng.
Đặc điểm rất thú vị là cây đậu biếc có thể thay đổi màu sắc theo độ tuổi. Khi non, thân cây sẽ có màu xanh còn khi già sẽ có màu nâu. Lá cây đậu biếc có hình bầu dục màu xanh đậm và mọc đối nhau trên cành. Các gân trên lá thường nổi rất rõ.
Có vẻ đẹp mong manh, rực rỡ, thường được trồng làm cảnh, giàn leo tỏa bóng mát. Đậu biếc cho ra những bông hoa dịu dàng và nữ tính cùng với màu sắc nhẹ nhàng. Đem lại một cảm giác bình an, mát mẻ nhất là trong những ngày hè oi ả. Hoa đậu biếc không chỉ mang vẻ đẹp say lòng người mà còn là một bài thuốc quý chữa bách bệnh.
Ở Việt Nam, cây đậu biếc thường được trồng làm cảnh, leo giàn ở bờ rào và để lấy hoa, quả. Có nơi trồng rất nhiều dùng làm cây phân xanh, cây che phủ đất và cải tạo đất. Cây chịu nắng và hạn được trồng bằng hạt. Hoa đậu biếc có dạng trứng ngược màu tím rất đẹp.
Đây là loại cây mọc hoang dã, có nguồn gốc từ các nước Đông Nam Á. Hiện nay được trồng ở rất nhiều nơi. Với đặc 3 tính sống dai và không đòi hỏi cao về môi trường sống nên cây có khả năng sinh trưởng rất tốt ở bất cứ đâu (Võ Văn Chi, 2012). Clitoria ternatea, thường gọi là đậu bướm, là lâu năm thực vật thân cỏ từ gia đình Fabaceae.
Nó gần đây đã thu hút nhiều quan tâm khi nó có ứng dụng tiềm năng cả hai hiện đại y học và nông nghiệp, và như nguồn thực phẩm chưa chế biến colorants và chất chống ô - xi hoá. ternatea đã lâu trồng như sự tàn phá và cây trồng làm cỏ khô cho súc vật ăn, và nghiên cứu sớm đánh giá thực vật vì những mục đích này. Cây trồng duy nhất ở châu Úc được tung ra cho vượt qua mục đích (Conway và Doughton, 2005). ternatea đã dùng rộng rãi trong y học cổ truyền, đặc biệt như bổ sung để cải tiến chức năng nhận thức và triệu chứng làm giảm nhẹ nhiều ốm đau bao gồm sốt, viêm, đau, và tiểu đường (Mukherjee và cộng tác viên, 2008).2 Đặc điểm sinh học và vùng phân bố hoa đậu biếc Cây đậu biếc dễ trồng và cũng rất dễ chăm sóc.
Cây có khả năng chịu được nóng, hạn rất tốt và ít bị sâu bệnh. Nhiệt độ ưa thích của cây từ khoảng 20 đến 30 0C. Tốc độ sinh trưởng phát triển trung bình. Phù hợp với nơi có ánh sáng, đất có nhiều mùn, chất dinh dưỡng.
Cây đậu biếc thuộc loại cây thảo leo, cuốn nhờ thân, mọc khá cao. Cây thân thảo hóa gỗ, nhiều cành nhánh nên độ che phủ rộng, sống lâu năm. Thân: hoa leo đậu biếc thuộc loại cây leo, leo bằng tua cuốn ở thân, cây thân thảo hóa gỗ, nhiều cành nhánh nên độ che phủ rộng. Thân đậu biếc màu xanh khi còn non và bánh tẻ, về già chuyển màu nâu, thân và cành mảnh có nhiều lông.
Thân có thể bò dài tới 10 m. Tán: tán lá rậm rạp, độ che phủ rộng. Lá: Lá màu xanh đậm, hình bầu dục thuôn dài, nhọn ở đầu, mọc thành cành, mọc đối trên cành, có gân nổi rõ, rất giống lá cỏ lạc cảnh. Lá cây leo đậu biếc xanh quanh năm Hoa: Đậu biếc có màu xanh tím hoặc xanh lam đậm, màu trắng, tím hoa cà với hình dáng lạ mắt dạng trứng ngược.
Hoa mọc ở nách lá thành chùm hoặc riêng lẻ nên rất sai hoa. Hoa có hai loại, hoa kép và hoa cánh đơn. Mùi thơm nhẹ, ở chính giữa hoa có màu vàng nhạt hay màu trắng rất nổi bật. Đậu biếc có hoa rải rác quanh năm.
Quả hình giống đậu ván, dài khoảng 4-13cm, rộng 0,8-1,2cm, màu xanh. Khi già thì có màu nâu, thường có đốm, có khoảng 6-10 hạt. 4 Hình 2: Các bộ phận của cây hoa đậu biếc Bởi vì đây là một loài cây hoang dã nên chúng mọc ở khắp nơi trên toàn quốc. Khu vực tập trung nhiều nhất vẫn là các nước nằm trong khu vực Châu Á.
Cây dễ dàng thích nghi với các điều kiện môi trường khác nhau. Do đó ở cả miền Bắc, Trung, Nam nước ta đều xuất hiện giống cây hoa đậu biếc này. Chưa kể đến, chúng có màu sắc đẹp mắt nên người ta còn trồng để trang trí nhà cửa. Cây hoa đậu biếc có nguồn gốc từ khu vực Đông Nam Á, những vùng khí hậu nhiệt đới, có khí hậu nóng ẩm.
Người dân thường dùng hoa đậu biếc để chế tạo phẩm nhuộm. Ở Ấn Độ, rễ cây hoa đậu biếc còn là một thảo dược quý giúp điều trị bệnh tật theo cách dân gian của họ. Ở Việt Nam, hoa đậu biếc cũng được nhắc đến rất nhiều. Mặc dù không ai biết chính xác thời điểm loài cây này có mặt từ năm nào nhưng đến nay chúng ngày càng phổ biến hơn.
Ta dễ dàng thấy cây đậu biếc nở hoa ở bờ rào, trong công viên,.3 Thành phần hóa học và lợi ích, tác hại của hoa đậu biếc 2.1 Thành phần hóa học Thành phần hóa học của đậu biếc rất đa dạng. Mỗi bộ phận trên cây đều chứa những thành phần hóa học khác nhau. Trong đó cây không chỉ chứa các chất hóa học có lợi mà còn chứa chất gây hại. Hạt của cây đậu biếc chứa chất dầu cố định cũng như một chất nhựa trắng.
Trong đó hạt chứa nhiều acid amin như: leucin, isoleucine, valin, adenin. Ngoài ra còn có các chất khác như: glycine, arginine, acid glutamic, acid aspartic, tyrosin. Lá cây chứa nhiều glactose, aparajita. Hoa có màu xanh, màu trắng đều chứa một este và chất nhựa glycoside (Nguyễn Thanh Vân, 2003).
5 Bảng 1: Thành phần hóa học của hoa đậu biếc Bộ phận Thành phần hóa học Chức năng Tài liệu tham khảo Lá Aclaoid, đường khử, Ngăn ngừa thoái Scalbert et al. flvonoid, steroid, hóa thần kinh và (2005) glycoside đái tháo đường. Kiểm soát hiệu Nadkarni (1992) quả đổ mồ hôi. Hoa Saponin, Tannin, các Chống viêm, Srivastava and et aclaoid, Glycoside, giảm đau, Ethanol al.
(2009) Phytosterol, chiết xuất được Malic and et al. Carbonhydrat sử dụng như (2008) thuốc trị đái tháo đường. Rễ 1,1-diphenyl-2- Chống oxy hóa, Braca et al. picrylhydrazyl vỏ rễ là thuốc lợi (2002) (DPPH) tiểu và thuốc nhuận tràng.
Kirtika and Basu, (1980) Hạt Delphinidin-3,3,5- Giúp lệ tiểu, làm Kirtika and Basu, triglucoside, acid thuốc tẩy và (1980) and amin, pentosan, thuốc nhuận Yoganaraimhan, adenosine, một tràng.