Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Quảng Ninh là tỉnh ven biển thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, sở hữu bờ biển dài 250 km cùng hơn 40.000 ha eo vịnh và hàng chục nghìn ha vũng nông ven bờ, tạo tiền đề phát triển kinh tế biển, nuôi trồng thủy sản và du lịch. Trong đó, thành phố Hạ Long là đô thị loại I, trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của tỉnh, đồng thời là nơi có Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long hai lần được UNESCO công nhận. Nằm bên bờ vịnh, phường Bãi Cháy đóng vai trò là trung tâm lưu trú và cung cấp dịch vụ du lịch ven bờ quy mô quốc tế.

Bên cạnh những lợi ích kinh tế, áp lực từ hoạt động du lịch, phát triển đô thị, giao thông thủy và công nghiệp đã làm phát sinh lượng lớn chất thải xả trực tiếp vào môi trường, gây nguy cơ suy giảm chất lượng nước biển ven bờ. Nhằm cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học cho công tác kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ môi trường khu vực, đề tài "Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng môi trường nước biển khu vực ven biển phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh" được thực hiện.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Văn bản xác định mục đích tổng quát là đánh giá hiện trạng môi trường, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nước biển ven bờ Bãi Cháy và đề xuất các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm. Mục tiêu cụ thể gồm 3 nội dung:

  1. Đánh giá hiện trạng môi trường nước biển khu vực phường Bãi Cháy.
  2. Xác định một số yếu tố tác động đến chất lượng môi trường nước biển khu vực phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
  3. Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm giảm thiểu ô nhiễm và quản lý môi trường nước biển tại khu vực nghiên cứu.

Nhiệm vụ nghiên cứu đi kèm 5 yêu cầu kỹ thuật: bảo đảm độ tin cậy và chính xác của số liệu; đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội gắn với các vấn đề môi trường địa phương; lấy mẫu nước trực tiếp tại khu vực nghiên cứu; đánh giá toàn diện các nguồn thải tác động; đề xuất giải pháp có tính khả thi và phù hợp thực tế.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng môi trường nước biển tại địa bàn phường Bãi Cháy; cộng đồng dân cư sinh sống trong khu vực và khách du lịch.
  • Phạm vi không gian: Vùng ven biển phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Căn cứ Quyết định số 2055/QĐ-UB ngày 06/08/1998 của UBND tỉnh Quảng Ninh về phân công quản lý chất thải rắn trên Vịnh Hạ Long, phạm vi dải ven bờ được xác định trong phạm vi cách mép nước 500 m trở vào.
  • Thời gian và địa điểm thực hiện: Đề tài được thực hiện từ tháng 01/2014 đến tháng 05/2014 tại UBND phường Bãi Cháy, Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Quảng Ninh và Trung tâm Quan trắc Môi trường tỉnh Quảng Ninh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý

Nghiên cứu dựa trên các khái niệm về tài nguyên biển, quản lý tổng hợp tài nguyên biển (Nghị định số 25/2009/NĐ-CP), hiện tượng ô nhiễm biển và cơ chế lan truyền chất ô nhiễm trong môi trường thủy vực ven bờ (Lê Văn Khoa, 2001), cùng hướng dẫn tiếp cận sức tải môi trường của GESAMP (1986).

Hệ thống văn bản pháp lý và quy chuẩn kỹ thuật áp dụng bao gồm:

  • Văn bản luật và nghị định: Luật Bảo vệ môi trường 2005; Luật Tài nguyên nước 2012; Luật Biển Việt Nam 2012 (Luật số 18/2012/QH13); Luật Hàng hải Việt Nam 2005; Luật Thủy sản 2003; Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị; Nghị định số 25/2009/NĐ-CP về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo; Nghị định số 162/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trên các vùng biển, đảo; Quyết định số 568/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch phát triển kinh tế biển, đảo Việt Nam đến năm 2020.
  • Quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật: QCVN 10:2008/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển ven bờ); QCVN 08:2008/BTNMT (nước mặt); QCVN 09:2008/BTNMT (nước ngầm); QCVN 11:2008/BTNMT (nước thải chế biến thủy sản); TCVN 5943:1995; TCVN 5998:1995; TCVN 6276:2003 và TCVN 6276:2003/SĐ 3:2007 (ngăn ngừa ô nhiễm biển của tàu); TCVN 6986:2001; TCVN 6987:2001.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Nghiên cứu kết hợp các phương pháp điều tra thực địa, phân tích hóa lý phòng thí nghiệm và phân tích thống kê đa biến:

  • Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp: Thu thập dữ liệu khí tượng thủy văn, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, báo cáo hiện trạng môi trường Vịnh Hạ Long và tỉnh Quảng Ninh năm 2013.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi đối với 100 đối tượng tại khu vực nghiên cứu, bao gồm 40 người dân/hộ gia đình, 40 khách du lịch và 20 cán bộ quản lý môi trường.
  • Phương pháp điều tra thực địa: Khảo sát địa hình ven bờ, hiện trạng xả thải, các cống thoát nước và nguồn nước sinh hoạt tại phường Bãi Cháy.
  • Phương pháp kế thừa: Kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó về môi trường nước và sức tải thủy vực Vịnh Hạ Long của Đỗ Trọng Bình (1997), Nguyễn Đức Cự (1998), Trần Đông Phong và Nguyễn Quỳnh Hương (2000), Wayne Forsythe và cộng sự (2012).
  • Phương pháp lấy mẫu và phân tích phòng thí nghiệm: Mẫu nước được lấy và bảo quản theo quy định của Trung tâm Quan trắc Môi trường tỉnh Quảng Ninh (chuẩn VILAS), phân tích các thông số theo tiêu chuẩn Việt Nam tương ứng:
    • pH: TCVN 6492-1999 (ISO 15023-1994)
    • Oxy hòa tan (DO): Phương pháp Winkler (TCVN 5499-1995)
    • Chất rắn lơ lửng (TSS): Lọc qua màng sợi thủy tinh (TCVN 6625-2000)
    • Nhu cầu oxy sinh hóa 5 ngày (BOD5): TCVN 6001-1995
    • Nhu cầu oxy hóa học (COD): TCVN 6491-1999
    • Amoni ($NH_4^+$): Phương pháp chưng cất và chuẩn độ (TCVN 5988-1995)
    • Sắt (Fe): Phương pháp trắc phổ dùng 1,10-phenantrolin (TCVN 6177-1996)
    • Mangan (Mn): Phương pháp trắc quang dùng fomaldoxim (TCVN 6002-1995)
    • Coliform: Phương pháp màng lọc (TCVN 6187-1-1996)
  • Phương pháp xử lý số liệu và mô hình hóa:
    • Nhập liệu và mã hóa trên Excel, phân tích thống kê đa biến trên phần mềm PRIMER 5.0 thông qua biểu đồ MDS (Multi-Dimensional Scaling) và PCA (Principal Component Analysis).
    • Sử dụng công cụ nội suy Kriging trên phần mềm ArcGIS để mô phỏng không gian lan truyền ô nhiễm từ các điểm quan trắc.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Phần này trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ sự phát triển kinh tế, đô thị hóa và dịch vụ du lịch tại khu vực Bãi Cháy gây sức ép lên môi trường nước biển ven bờ. Tác giả xác định mục đích, 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, 5 yêu cầu kỹ thuật và phân tích ý nghĩa lý luận cũng như thực tiễn trong công tác quản lý tài nguyên môi trường biển.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Tác giả hệ thống hóa cơ sở khoa học về tài nguyên biển, nguyên nhân gây ô nhiễm biển từ đất liền và các hoạt động hàng hải, đồng thời liệt kê đầy đủ hệ thống văn bản pháp lý, tiêu chuẩn TCVN và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN điều chỉnh chất lượng nước.

Về tình hình nghiên cứu:

  • Trên thế giới: Tổng hợp các nghiên cứu về sức tải môi trường của GESAMP (1986), các đánh giá ô nhiễm thủy vực ven bờ tại Scotland, vịnh Chesapeake, cửa sông York (Mỹ), vịnh Mexico, cũng như nghiên cứu ứng dụng phương pháp nội suy Kriging trên ArcGIS 10.1 của Wayne Forsythe và cộng sự (2012).
  • Tại Việt Nam: Nêu các nghiên cứu tiêu biểu tại Vịnh Hạ Long, bao gồm nghiên cứu vai trò thực vật nổi của Đỗ Trọng Bình (1997), đánh giá tác động san lấp mặt bằng làm suy giảm khả năng tự làm sạch của Nguyễn Đức Cự (1998) và mô hình hóa lan truyền chất ô nhiễm của Viện Tài nguyên và Môi trường biển (Trần Đông Phong, Nguyễn Quỳnh Hương, 2000).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định cụ thể đối tượng, phạm vi không gian (vùng biển ven bờ cách mép nước 500 m) và thời gian nghiên cứu (tháng 01/2014 đến 05/2014). Phần này chi tiết hóa 6 nhóm nội dung nghiên cứu và các phương pháp triển khai: thu thập dữ liệu thứ cấp, điều tra bảng hỏi (100 phiếu), khảo sát thực địa, phương pháp kế thừa, quy trình phân tích phòng thí nghiệm theo TCVN/ISO tại Trung tâm Quan trắc Môi trường tỉnh Quảng Ninh, cùng kỹ thuật xử lý dữ liệu bằng phần mềm PRIMER 5.0 và ArcGIS.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Nội dung chương 4 tập trung vào 5 nhóm vấn đề chính:

  1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội TP. Hạ Long:
    • Diện tích tự nhiên toàn thành phố là 27.195,03 ha, bờ biển dài 50 km, gồm 20 phường.
    • Khí hậu có nhiệt độ trung bình năm 23,7°C (dao động từ 16,7°C đến 28,6°C, cao nhất 38°C, thấp nhất 5°C); lượng mưa trung bình 1.832 mm/năm (80–85% tập trung vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10); độ ẩm trung bình 84%; chế độ nhật triều thuần nhất với biên độ 3,5–4,5 m.
    • Dân số năm 2012 đạt 234.753 người, mật độ 834 người/km²; lượng khách du lịch năm 2013 đạt 7,5 triệu lượt (trong đó 2,5 triệu khách quốc tế); có 1.470 cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và 3 khu công nghiệp tập trung (Cái Lân, Việt Hưng, Hà Khánh).
  2. Hiện trạng chất lượng nước biển ven bờ Bãi Cháy năm 2013: Kết quả phân tích tại mạng lưới 5 trạm quan trắc (D1: Bến tàu du lịch Bãi Cháy, D2: Bãi tắm Bãi Cháy, D4: Giữa cầu Bãi Cháy, D3 và D5) cho thấy các chỉ tiêu TSS, BOD5, Coliform nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN 10:2008/BTNMT, tuy nhiên chỉ tiêu dầu mỡ và DO ghi nhận sự vượt chuẩn rõ rệt.
  3. Các nguồn thải chính gây ô nhiễm:
    • San lấn biển và đô thị hóa: Giai đoạn 1998–2003, thành phố Hạ Long mất 295 ha rừng ngập mặn (trong đó 134 ha do hoạt động san lấp lấn biển phát triển đô thị). Việc thi công thiếu đồng bộ hạ tầng thoát nước dẫn đến hiện tượng rửa trôi đất đá và bùn trôi ra biển.
    • Hoạt động kinh tế - dịch vụ ven bờ: Tại bãi tắm Hoàng Gia, một số nhà hàng, cơ sở dịch vụ không đấu nối vào hệ thống thu gom nước thải chung mà xả trực tiếp ra vịnh. Khu vực cảng Cái Lân phát sinh hiện tượng xả trộm bùn nạo vét (điển hình ngày 21/11/2013 bắt quả tang 2 tàu HP 2338 và HP 3695 xả gần 300 m³ bùn thải tại hòn Bái Đông).
    • Chất thải sinh hoạt đô thị và du lịch: Lượng nước thải sinh hoạt của TP. Hạ Long năm 2013 khoảng 12 triệu m³/năm (trong tổng số 34,675 triệu m³/năm toàn tỉnh). Nhà máy xử lý nước thải Bãi Cháy có công suất thiết kế 3.500 m³/ngày đêm nhưng thường xuyên vận hành quá tải gấp 2 lần (đỉnh điểm ngày 21/09/2012 đạt 6.000 m³/ngày đêm).
    • Giao thông thủy: Cụm cảng Cái Lân tiếp nhận gần 1.000 lượt tàu thuyền qua lại mỗi ngày; Vịnh Hạ Long có hơn 500 tàu du lịch hoạt động (khoảng 150 tàu lưu trú nghỉ đêm phát sinh chất thải hữu cơ trung bình 2 kg/tàu/ngày), tình trạng nước thải la canh lẫn dầu chưa được thu gom triệt để.
  4. Phân tích quan hệ ô nhiễm và mô phỏng lan truyền: Sử dụng PRIMER 5.0 để phân tích độ tương đồng (similarity từ 83–100%), vẽ biểu đồ phân bố MDS và PCA thể hiện mối liên hệ giữa các nhóm yếu tố nguồn thải với chất lượng nước. Ứng dụng kỹ thuật Kriging trên ArcGIS xây dựng bản đồ mô phỏng lan truyền dầu mỡ và các thông số ô nhiễm từ các trạm quan trắc.
  5. Giải pháp giảm thiểu ô nhiễm: Đề xuất 5 nhóm biện pháp: nhóm giải pháp chính sách, nhóm giải pháp quản lý, nhóm giải pháp tuyên truyền giáo dục, nhóm giải pháp kinh tế và nhóm giải pháp pháp lý.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tóm tắt các phát hiện chính về hiện trạng chất lượng nước biển khu vực Bãi Cháy, khẳng định các yếu tố gây ô nhiễm chính và đưa ra kiến nghị tới các cơ quan quản lý nhà nước về việc tăng cường kiểm soát nguồn thải ven bờ và đầu tư nâng cấp hạ tầng thu gom xử lý nước thải.


Kết quả và đóng góp

Kết quả quan trắc chất lượng nước biển (năm 2013)

Dữ liệu phân tích mẫu nước biển ven bờ phường Bãi Cháy năm 2013 theo các tiêu chuẩn quy định được tổng hợp trong bảng sau:

Thông số Đơn vị D1 (Bến tàu du lịch) D2 (Bãi tắm Bãi Cháy) D4 (Giữa cầu Bãi Cháy) D5 (Cảng Cái Lân) QCVN 10:2008/BTNMT (Bãi tắm) QCVN 10:2008/BTNMT (Nơi khác) Đánh giá so với quy chuẩn
pH - 8,1 8,1 8,0 8,1 6,5 – 8,5 6,5 – 8,5 Nằm trong GHCP
Dầu mỡ mg/l 0,435 0,08 0,161 0,2025 0,1 0,2 3/4 điểm vượt GHCP (D1 vượt 4,35 lần; D4 vượt 0,61 lần; D5 vượt 2,025 lần)
TSS mg/l 20 21 18 20 50 50 Nằm trong GHCP (dao động 16–24 mg/l, TB 18 mg/l)
Amoni mg/l 0,07 0,05 0,06 0,08 0,1 0,1 Nằm trong GHCP
DO mg/l 6,58 6,55 6,90 6,90 $\ge 4,0$ (hoặc GHCP theo bảng) $\ge 4,0$ Vượt GHCP bảng ghi nhận (D2 vượt 1,63 lần; D4, D5 vượt 1,72 lần; D1 vượt 1,64 lần)
BOD5 mg/l 1,8 1,2 2,1 1,9 - - Dao động 0,8 – 2,1 mg/l, nằm trong mức an toàn
Coliform MPN/100ml 150 90 135 250 1.000 1.000 Nằm trong GHCP (dao động 20 – 250 MPN/100ml)

Các nhóm giải pháp do tác giả đề xuất

  1. Nhóm giải pháp chính sách: Hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành giữa UBND thành phố Hạ Long, Sở Tài nguyên và Môi trường và Ban Quản lý Vịnh Hạ Long; lồng ghép quy hoạch bảo vệ môi trường vào quy hoạch phát triển du lịch và kinh tế biển.
  2. Nhóm giải pháp quản lý:
    • Đầu tư nâng cấp, mở rộng công suất Nhà máy xử lý nước thải Bãi Cháy để giải quyết tình trạng quá tải (trên 6.000 m³/ngày đêm);
    • Hoàn thiện hệ thống cửa phai, cửa ngăn triều chống rò rỉ nước thải ra bãi tắm;
    • Bắt buộc các cơ sở kinh doanh, nhà hàng ven biển (khu Hoàng Gia) đấu nối toàn bộ nước thải vào trạm xử lý tập trung;
    • Tăng cường thanh tra, giám sát hoạt động thu gom nước thải la canh lẫn dầu từ đội tàu du lịch và tàu chở hàng tại Cảng Cái Lân, Bến tàu Bãi Cháy; quản lý chặt hoạt động nạo vét luồng lạch.
  3. Nhóm giải pháp tuyên truyền, giáo dục: Nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường biển cho người dân địa phương, chủ phương tiện thủy và du khách; bố trí thêm thùng rác và biển chỉ dẫn tại các bãi tắm Thanh Niên, Bãi Cháy.
  4. Nhóm giải pháp kinh tế và pháp luật: Áp dụng chế tài xử phạt nghiêm theo Nghị định số 162/2013/NĐ-CP đối với các hành vi xả trộm bùn thải và nước thải nhiễm dầu; thực hiện thu phí bảo vệ môi trường đối với các cơ sở lưu trú và tàu thuyền hoạt động trên vịnh.

Đóng góp của nghiên cứu

Khóa luận đã hệ thống hóa số liệu quan trắc thực nghiệm chất lượng nước biển ven bờ Bãi Cháy năm 2013, làm rõ mức độ ô nhiễm dầu mỡ tại các nút giao thông thủy và tình trạng quá tải của hạ tầng xử lý nước thải đô thị. Đề tài ứng dụng kết hợp phương pháp phân tích thống kê đa biến (PRIMER 5.0) và mô hình nội suy không gian (ArcGIS Kriging), cung cấp cơ sở thực tiễn cho công tác quản lý môi trường đới bờ tại địa phương.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Phạm vi quan trắc tập trung tại 5 điểm ven bờ phường Bãi Cháy, chưa bao quát toàn bộ đới ven bờ vịnh Cửa Lục và các khu vực giáp ranh.
    • Thời gian quan trắc và khảo sát thực địa được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 01/2014 đến tháng 05/2014 (chủ yếu phản ánh đặc tính mùa khô và thời điểm chuyển mùa), chưa so sánh chi tiết chuỗi dữ liệu nhiều năm trong cùng một điều kiện khí tượng tương đương.
    • Số lượng mẫu điều tra xã hội học dừng lại ở quy mô 100 phiếu khảo sát.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng mạng lưới quan trắc định kỳ theo không gian và cả 2 mùa (mùa mưa và mùa khô) để đánh giá toàn diện sự biến thiên nồng độ chất ô nhiễm.
    • Ứng dụng các mô hình thủy động lực học kết hợp mô hình lan truyền chất hai chiều hoặc ba chiều để mô phỏng chính xác hơn cơ chế phát tán chất ô nhiễm dưới tác động của dòng chảy triều tại vùng nước Bãi Cháy.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo phục vụ các nhóm đối tượng sau:

  • Sinh viên và học viên ngành Môi trường: Sinh viên các ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Kỹ thuật Môi trường có thể tham khảo quy trình phối hợp giữa phân tích lý hóa phòng thí nghiệm (TCVN/VILAS) với các công cụ thống kê sinh thái PRIMER (MDS, PCA) và mô hình hóa GIS (ArcGIS Kriging).
  • Cơ quan quản lý địa phương: Cung cấp tài liệu tham khảo cho Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Quảng Ninh, Phòng Tài nguyên và Môi trường TP. Hạ Long và Ban Quản lý Vịnh Hạ Long trong việc đánh giá tải lượng nguồn thải từ tàu thuyền, các cơ sở kinh doanh ven bờ và hiện trạng vận hành của trạm xử lý nước thải Bãi Cháy.
  • Người làm đề tài về môi trường biển: Tham khảo cấu trúc nghiên cứu thực trạng đới bờ, các chỉ tiêu giám sát chất lượng nước biển theo QCVN 10:2008/BTNMT và phương pháp khảo sát nguồn thải điểm và diện ven biển.

Câu hỏi thường gặp

1. Kết quả quan trắc nồng độ dầu mỡ trong nước biển ven bờ Bãi Cháy năm 2013 ghi nhận những số liệu nào?
Nồng độ dầu mỡ tại 3/4 điểm quan trắc vượt giới hạn cho phép theo QCVN 10:2008/BTNMT: Bến tàu du lịch Bãi Cháy (D1) đạt 0,435 mg/l (vượt GHCP 4,35 lần); khu vực giữa cầu Bãi Cháy (D4) đạt 0,161 mg/l (vượt GHCP 0,61 lần); Cảng Cái Lân (D5) đạt 0,2025 mg/l (vượt GHCP 2,025 lần). Điểm bãi tắm Bãi Cháy (D2) đạt 0,08 mg/l, nằm trong giới hạn cho phép.

2. Các chỉ tiêu TSS, BOD5 và Coliform tại vùng biển Bãi Cháy có bị ô nhiễm không?
Các chỉ tiêu này đều nằm trong giới hạn cho phép của quy chuẩn: nồng độ TSS dao động từ 16 đến 24 mg/l (trung bình 18 mg/l, chuẩn cho phép là 50 mg/l); chỉ số BOD5 dao động từ 0,8 đến 2,1 mg/l; hàm lượng vi sinh vật Coliform dao động từ 20 đến 250 MPN/100ml (chuẩn cho phép là 1.000 MPN/100ml).

3. Khối lượng phát sinh và thực trạng thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt tại TP. Hạ Long và Bãi Cháy ra sao?
Năm 2013, lượng nước thải sinh hoạt đô thị của TP. Hạ Long ước tính khoảng 12 triệu m³/năm. Nhà máy xử lý nước thải Bãi Cháy có công suất thiết kế 3.500 m³/ngày đêm nhưng thường xuyên tiếp nhận lượng nước thải gấp gần 2 lần công suất, ngày cao điểm (21/09/2012) đạt mức 6.000 m³/ngày đêm, gây ảnh hưởng đến hiệu quả xử lý trước khi thoát ra biển.

4. Mức độ suy giảm diện tích rừng ngập mặn tại TP. Hạ Long do san lấp lấn biển được thống kê như thế nào?
Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn được trích dẫn trong văn bản, giai đoạn 1998–2003, thành phố Hạ Long đã mất đi 295 ha rừng ngập mặn, trong đó có 134 ha bị mất trực tiếp do các hoạt động san lấp lấn biển phát triển đô thị.

5. Khóa luận sử dụng các công cụ phần mềm nào để xử lý số liệu thống kê và mô phỏng ô nhiễm?
Tác giả sử dụng phần mềm PRIMER 5.0 để phân tích quan hệ tương đồng giữa các yếu tố ô nhiễm qua hai phương pháp MDS (Multi-Dimensional Scaling) và PCA (Principal Component Analysis); đồng thời sử dụng công cụ Kriging trên phần mềm ArcGIS để xây dựng bản đồ mô phỏng lan truyền ô nhiễm từ 5 trạm quan trắc.


Kết luận

Khóa luận đã phân tích hiện trạng chất lượng môi trường nước biển ven bờ phường Bãi Cháy năm 2013 thông qua hệ thống số liệu quan trắc thực tế và điều tra xã hội học. Kết quả nghiên cứu xác định dầu mỡ là thông số ô nhiễm chính vượt quy chuẩn tại các khu vực bến cảng và luồng tàu chạy, xuất phát từ nước thải tàu thuyền, giao thông thủy, sự cố đổ bùn nạo vét và tình trạng quá tải của Nhà máy xử lý nước thải Bãi Cháy. Trên cơ sở mô hình hóa lan truyền ô nhiễm bằng ArcGIS và PRIMER, đề tài đã đề xuất hệ thống giải pháp quản lý, kỹ thuật và chính sách đồng bộ nhằm giảm thiểu ô nhiễm đới bờ Vịnh Hạ Long.