Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu. Chương này sẽ trình bày lý do nghiên cứu của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài, tổng quan các phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận. Chương này sẽ trình bày những cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Chương 3: Mô hình, giả thuyết và phương pháp nghiên cứu. Trên cơ sở lý thuyết, tổng quan các nghiên cứu trước chương này sẽ trình bày mô hình nghiên cứu cùng các giả thuyết nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết qủa nghiên cứu. Chương này trình bày các kết quả nghiên cứu của đề tài về chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng.
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị. Chương này sẽ trình bày những kết luận của nghiên cứu từ đó tác giả đề xuất những kiến nghị đối với các ngân hàng thương mại nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử đối với khách hàng cá nhân trên địa bàn Thành phố Hà Nội. Bên cạnh đó, chương này cũng trình bày những mặt hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.
Dịch vụ ngân hàng điện tử 2. Dịch vụ ngân hàng 2. Khái niệm dịch vụ ngân hàng Dịch vụ Có nhiều quan niệm khác nhau về DV Theo Kotler & Keller (2006) thì: DV là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu. Việc thực hiện DV có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất.
Theo Zeithaml và Bitner (2000) thì: “DV là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho KH nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của KH.” Theo Từ điển tiếng Việt (2004, NXB Đà Nẵng, tr256) thì: DV là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công. Như vậy có khá nhiều quan niệm khác nhau về DV, song một cách chung nhất có thể hiểu DV là quá trình và cách thức thực hiện một công việc nhất định nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của KH. Dịch vụ ngân hàng Theo Peter S. Rose (2004) thì: DV NH là toàn bộ hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối… của hệ thống NH cung ứng cho nền kinh tế.
Ở Việt Nam, DV NH được Luật Các TCTD (2010) đề cập, song Luật này không đưa ra định nghĩa và giải thích rõ ràng về DV NH mà chỉ đề cập đến thuật ngữ “hoạt động NH”: “là việc kinh doanh cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng DV thanh toán qua tài 8 khoản”. (Khoản 12, Điều 4), theo đó, có thể hiểu hoạt động NH được chia theo 4 nhóm lớn: huy động vốn; tín dụng; thanh toán và ngân quỹ; các hoạt động khác. Một cách chung nhất có thể hiểu: DV NH là toàn bộ các hoạt động của NHTM nhằm đáp ứng nhu cầu của KH trong nền kinh tế xã hội. Các loại dịch vụ của ngân hàng thương mại Dịch vụ ngân hàng là loại hình dịch vụ xuất hiện sớm nhất trong các loại hình dịch vụ tài chính.
Theo cách định nghĩa của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đưa ra trong Phụ lục về dịch vụ tài chính của Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) thì: Một dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp. dịch vụ tài chính bao gồm dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm). Điều đó có nghĩa dịch vụ ngân hàng là một bộ phận cấu thành dịch vụ tài chính và trong bảng phân ngành dịch vụ của WTO nó được chia thành 12 phân ngành cụ thể sau: 1. Nhận tiền gửi và các khoản tiền gửi từ công chúng; 2.
Cho vay dưới mọi hình thức bao gồm: cho vay tiêu dùng, thế chấp, bao thanh toán và các khoản tài trợ cho các giao dịch thương mại khác; 3. Cho thuê tài chính; 4. Tất cả các khoản thanh toán và chuyển tiền, bao gồm thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, thẻ thanh toán, séc du lịch và hối phiếu ngân hàng; 5. Bảo lãnh và cam kết thanh toán; 6.
Tự doanh hoặc kinh doanh trên tài khoản của khách hàng, kể cả trên thị trường tập trung, thị trường OTC hoặc các thị trường khác; 7. Phát hành các loại chứng khoán, bao gồm cả việc bảo lãnh phát hành và đại lý phát hành (cả phát hành công khai và không công khai) và cung ứng các dịch vụ liên quan đến hoạt động phát hành; 8. Môi giới tiền tệ; 9. Quản lý tài sản gồm quản lý tiền mặt, quản lý danh mục, tất cả các hình thức quản lý đầu tư tập thể, quản lý quỹ hưu trí, dịch vụ ủy thác, lưu ký và tín thác; 10.
dịch vụ thanh toán và thanh toán bù trừ đối với các tài sản tài chính, bao gồm chứng khoán, các sản phẩm phái sinh và các công cụ có thể chuyển nhượng khác; 11. Cung cấp và trao đổi các thông tin tài chính, xử lý dữ liệu tài chính và phần mềm có liên quan của các nhà cung ứng dịch vụ tài chính khác; 12. dịch vụ tư vấn, môi giới và các dịch vụ tài chính hỗ trợ 9 khác liên quan đến tất cả các hoạt động nói trên, bao gồm cả việc tham chiếu và phân tích tín dụng, nghiên cứu, tư vấn đầu tư và đầu tư theo danh mục, tư vấn đối với các hoạt động mua lại và tái cơ cấu doanh nghiệp cũng như xây dựng chiến lược. Ngoài ra, dịch vụ ngân hàng cần được hiểu theo hai phạm vi rộng và hẹp.
Theo nghĩa rộng, dịch vụ ngân hàng là toàn bộ hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối. của hệ thống ngân hàng với doanh nghiệp và công chúng. Quan niệm theo nghĩa rộng này được sử dụng để xem xét lĩnh vực dịch vụ ngân hàng trong cơ cấu kinh tế của một quốc gia. Theo nghĩa hẹp, dịch vụ ngân hàng chỉ bao gồm những hoạt động ngoài chức năng truyền thống (như huy động vốn và cho vay).
Quan niệm này chỉ nên dùng để nghiên cứu sự phát triển các dịch vụ ngân hàng mới và cơ cấu các dịch vụ ngân hàng mới trong hoạt động của ngân hàng. Tóm lại, có thể hiểu khái quát về dịch vụ ngân hàng như sau: “dịch vụ ngân hàng bao gồm tất cả các dịch vụ được ngân hàng cung cấp cho khách hàng". Như vậy, DV mà NHTM cung cấp cho nền kinh tế rất đa dạng, bao phủ hầu hết các DV tài chính trong một nền kinh tế, nó được coi như bách hóa tài chính với hàng trăm, thậm chí hàng nghìn DV khác nhau tùy theo cách phân loại và tùy theo trình độ phát triển của NH. Các hình thức của DV NH rất phong phú, đa dạng và luôn phát triển.
Đặc điểm dịch vụ ngân hàng dịch vụ ngân hàng Thứ nhất, Do NHTM tạo ra và cung cấp làm thỏa mãn nhu cầu của KH DV NH do NHTM hoặc có thể do một số TCTD hoặc một tổ chức kinh tế được phép cung cấp. NHTM có nhiều hoạt động, tuy nhiên, những hoạt động nào làm thỏa mãn nhu cầu của KH được gọi là DV NH. Thứ hai, Có tính mở cao DV NH không chỉ hữu hình mà có cả bộ phận vô hình, không tồn tại dưới dạng vật thể. Tính vô hình được biểu lộ khác nhau đối với từng loại DV.
Chính tính vô hình của DV NH đã làm nên tính mở của chúng. Do tính mở này, nên DV NH luôn được 1 đổi mới và mở cửa cho các NH khai thác chúng: Các NH chỉ cần giảm các thủ tục phiền hà cho KH cũng đã tạo ra một DV mới so với DV tiền thân của nó. Với cách hiểu như vậy, DV NH luôn được cải tiến: Bên cạnh những DV truyền thống, với sự hậu thuẫn của kỹ thuật công nghệ, các NH ngày càng tạo ra nhiều DV NH mới để phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu của KH. Thứ ba, Dễ bị sao chép Đặc điểm này được thể hiện ở chỗ nếu NH vừa cung cấp một loại DV NH nào đó trên thị trường và có hiệu quả, thì lập tức các NH khác có thể thực hiện ngay DV đó nếu họ muốn.
Thứ tư, Mang tính hỗ trợ cao, có mối liên kết chặt chẽ Các DV NH luôn có mối liên hệ chặt chẽ với nhau: sự ra đời và phát triển DV này là cơ sở để có sự ra đời và phát triển DV kia và ngược lại. Bằng chứng là: NH không thể phát triển DV tín dụng mà không đẩy mạnh DV thanh toán; phát triển DV thanh toán không thể không phát triển DV mua bán ngoại tệ; NH không thể phát triển DV phát hành thẻ tín dụng mà không mở rộng cho vay. Các mối quan hệ chặt chẽ trên tạo ra một hệ thống hỗ trợ giữa chúng trong sự phát triển các DV NH. Nhờ khai thác mối quan hệ này, các NH có sự phát triển bền vững, phát huy mạnh mẽ tính hệ thống của DV và có thể cung cấp DV trọn gói cho KH, biến NHTM trở thành một “bách hóa tài chính” thực sự.
Thứ năm, Mang lại thu nhập cho NH thông qua phí DV Thu nhập của NH hình thành từ thu phí DV nói chung, có những DV làm tăng thu nhập của NH một cách trực tiếp như: Phí mua bán ngoại tệ, phí chuyển tiền, phí mở và thanh toán L/C. Tuy nhiên, cũng có những DV NH không thu từ KH mà chỉ thông qua DV đó để lôi kéo KH, tăng sức cạnh tranh với các NH khác hoặc không qua DV đó làm tăng thu nhập từ các DV khác. Dịch vụ ngân hàng điện tử 2. Khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử 1 Hiện nay có khá nhiều quan niệm khác nhau về DV NHĐT: Mols (1998) hay M.
Sathye (1999) đều cho rằng DV NHĐT đề cập đến một số dạng DV mà thông qua đó KH có thể yêu cầu cung cấp thông tin và thực hiện hầu hết các DV NH bán lẻ thông qua máy tính hoặc điện thoại. Herington & Weaven (2007) cho rằng NH trực tuyến là cổng thông tin điện tử mà qua đó KH có thể sử dụng DV NH khác nhau, từ thanh toán hóa đơn cho đến thực hiện khoản đầu tư. Salehi & Alipour (2014) thì cho rằng DV NHĐT là việc cung cấp tự động các sản phẩm và DV NH trực tiếp tới KH thông qua các kênh tương tác truyền thông điện tử.