Tổng quan nghiên cứu

Trong chiến lược phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững tại Việt Nam, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ gỗ nhỏ sang gỗ lớn đóng vai trò then chốt nhằm nâng cao giá trị gia tăng và bảo vệ môi trường sinh thái. Huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng sở hữu tổng diện tích tự nhiên 91.306,15 ha, trong đó diện tích đất có rừng chiếm 38.707,82 ha nhưng diện tích rừng trồng mới chỉ đạt 131,22 ha và đất có cây gỗ tái sinh chưa thành rừng lên tới hơn 17.000 ha. Căn cứ theo Quyết định số 774/QĐ-BNN-TCLN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về kế hoạch hành động nâng cao năng suất, giá trị rừng trồng và định hướng của Luật Lâm nghiệp năm 2017, việc phát triển các loài cây bản địa đa tác dụng là yêu cầu cấp thiết. Loài Xoan ta (Melia azedarach Linn) xếp thứ 21 trong danh mục các loài cây chủ lực trồng rừng sản xuất vùng Đông Bắc theo Quyết định số 4961/QĐ-BNN-TCLN.

Tuy nhiên, các tư liệu khoa học về đặc tính sinh thái học, cấu trúc lâm phần và khả năng tái sinh tự nhiên của loài cây này tại địa bàn miền núi phía Bắc vẫn còn rất tản mạn. Đề tài luận văn tập trung nghiên cứu đặc điểm lâm học, quy luật cấu trúc tầng cây cao và tầng cây tái sinh nơi có Xoan ta phân bố tự nhiên tại hai xã đại diện là Yên Thổ và Thái Học thuộc huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng trong giai đoạn từ tháng 6 năm 2019 đến tháng 6 năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi xác lập cơ sở khoa học giúp địa phương quy hoạch vùng trồng rừng gỗ lớn với chu kỳ 10 đến 12 năm, đạt năng suất dự kiến 120 đến 150 m3/ha, tạo sinh kế bền vững cho hơn 98% đồng bào dân tộc thiểu số tại vùng cao Đông Bắc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng quan điểm sinh thái phát sinh quần thể thảm thực vật rừng nhiệt đới của giáo sư Thái Văn Trừng (1978, 2000), khẳng định thảm thực vật rừng là tấm gương phản chiếu trung thực mối quan hệ biện chứng giữa điều kiện lập địa và sinh vật. Khung phân loại thảm thực vật rừng kế thừa hệ thống phân loại ngoại mạo sinh thái của UNESCO (1973) kết hợp tiêu chuẩn trạng thái rừng phục hồi nhiệt đới của Loeschau và Thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Phương pháp luận định lượng cấu trúc lâm phần dựa trên mô hình phân tích lâm sinh học của Lamprecht (1969) và Curtis (1959). Hệ thống khái niệm then chốt bao gồm:

  • Chỉ số giá trị quan trọng (IV%): Đại lượng biểu thị tỉ trọng tương đối về số cá thể và tiết diện ngang của loài trong lâm phần; các loài có IV% lớn hơn 5% giữ vai trò sinh thái chủ đạo.
  • Cấu trúc tầng thứ: Sự phân hóa không gian thẳng đứng theo các tầng A1 (vượt tán, chiều cao từ 15m trở lên), A2 (tán chính, chiều cao 10 đến 15m) và A3 (dưới tán, chiều cao dưới 10m).
  • Đa dạng sinh học: Đo lường mức độ phong phú loài và tính đồng đều nội tại thông qua các chỉ số Shannon-Wiener và Simpson.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thực nghiệm được thu thập đồng bộ ngoài hiện trường thông qua hệ thống 18 ô tiêu chuẩn tạm thời (OTC) với kích thước 1.000 m2/ô (mỗi xã lập 9 OTC), tổng diện tích điều tra đạt 18.000 m2. Để đánh giá lớp cây tái sinh, nghiên cứu bố trí 90 ô dạng bản kích thước 25 m2 (5x5m) tại 4 góc và trung tâm mỗi OTC, đồng thời lập 8 ô dạng bản kích thước 16 m2 (4x4m) xung quanh từng cây mẹ đại diện. Khảo sát thổ nhưỡng được thực hiện qua 6 phẫu diện đất sâu đến 50cm tại 3 vị trí địa hình chân, sườn và đỉnh. Bên cạnh đó, nghiên cứu phỏng vấn 15 hộ dân bản địa (5 hộ tại xã Yên Thổ và 10 hộ tại xã Thái Học) để đánh giá tập quán gây trồng và giá trị sử dụng.

Phương pháp chọn mẫu điển hình đại diện được áp dụng dựa trên đai địa hình dốc từ 25 đến 38 độ và trạng thái rừng phục hồi IIA có Xoan ta phân bố. Việc phân tích số liệu được tiến hành trên phần mềm SPSS 13.0 để tính toán các tham số cấu trúc, nắn phân bố đường kính ngang ngực (D1.3) và chiều cao vút ngọn (Hvn) theo hàm phân bố khoảng cách và hàm Weibull. Lý do lựa chọn các phương pháp này nhằm đảm bảo tính khách quan, mô tả chính xác tương quan sinh thái thực nghiệm trong toàn bộ khung thời gian triển khai từ tháng 6 năm 2019 đến tháng 6 năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về cấu trúc tổ thành tầng cây cao, Xoan ta thể hiện vai trò ưu thế sinh thái vượt trội trong trạng thái rừng phục hồi IIA. Tại xã Thái Học, chỉ số quan trọng IV% của Xoan ta đạt giá trị cao nhất ở vị trí chân với 24,45%, ở vị trí sườn đạt 20,62% và duy trì 12,33% ở vị trí đỉnh. Tại xã Yên Thổ, Xoan ta chiếm vị trí số 1 ở chân với IV% đạt 17,24% trong tổng số 22 loài cây gỗ, tại sườn đạt 14,48% và tại đỉnh đạt 5,15%.

Thứ hai, về mật độ và cấu trúc tầng thứ, mật độ lâm phần toàn rừng biến động từ 340 đến 520 cây/ha, trong đó mật độ riêng của loài Xoan ta đạt từ 30 đến 61 cây/ha (cao nhất tại chân đồi xã Thái Học với 61 cây/ha). Về chiều cao, Xoan ta có chiều cao cực đại đạt 15,3 đến 16,3m, chiều cao bình quân từ 10,2 đến 12,4m. Xoan ta phân bố tập trung ở tầng tán chính A2 (10 đến 15m) và tầng vượt tán A1 (từ 15m trở lên), hoàn toàn áp đảo tầng dưới tán.

Thứ ba, về tính đa dạng sinh học và lập địa, số lượng loài cây gỗ dao động từ 22 đến 30 loài tùy vị trí địa hình. Chỉ số đa dạng Simpson đạt từ 0,88 đến 0,93; chỉ số Shannon-Wiener đạt từ 2,42 đến 2,84, đạt giá trị cao nhất tại sườn đồi xã Thái Học và chân đồi xã Yên Thổ. Khảo sát thổ nhưỡng ghi nhận Xoan ta sinh trưởng mạnh nhất trên đất feralit có tầng dày trên 50cm, thành phần cơ giới thịt nhẹ đến thịt nặng, độ dốc 25 đến 38 độ và tỷ lệ đá lẫn thấp từ 4% đến 20%.

Toàn bộ các chuỗi dữ liệu định lượng trên có thể được trực quan hóa sinh động qua biểu đồ phân bố tần số đường kính thực nghiệm, đồ thị đường cong nắn phân bố Weibull và bảng ma trận hệ số tổ thành đa loài.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính giúp Xoan ta chiếm ưu thế tại tầng cây cao là nhờ đặc tính sinh thái của loài cây tiên phong ưa sáng hoàn toàn, có tốc độ tăng trưởng nhanh trong những năm đầu đời để nhanh chóng vươn lên đón nhận ánh sáng tầng trên. Tỷ lệ IV% của Xoan ta có xu hướng giảm dần từ vị trí chân lên đỉnh đồi do độ dày tầng đất giảm và tỷ lệ đá lẫn tăng cao (đạt tới 35% tại đỉnh).

So sánh với các nghiên cứu lâm sinh của giáo sư Thái Văn Trừng và các công trình nghiên cứu rừng nhiệt đới của Lamprecht, kết quả này hoàn toàn thống nhất về quy luật phân tầng và tính chọn lọc lập địa của các loài cây gỗ bản địa mọc nhanh. Về mặt thực tiễn, phát hiện này chứng minh rằng việc quy hoạch rừng trồng gỗ lớn Xoan ta nên ưu tiên vùng chân đồi và sườn thoải nhằm tối ưu hóa sinh khối và rút ngắn thời gian thu hoạch gỗ.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện quy hoạch và cơ chế hỗ trợ vốn: Ủy ban nhân dân huyện Bảo Lâm phối hợp cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Cao Bằng xây dựng đề án phát triển vùng nguyên liệu gỗ lớn Xoan ta tập trung. Mục tiêu mở rộng diện tích trồng mới 500 ha tại xã Yên Thổ và Thái Học trong giai đoạn 2021 đến 2025, áp dụng chính sách hỗ trợ 100% chi phí cây giống xuất xứ chuẩn cho các hộ đồng bào nghèo.

Thứ hai, chuẩn hóa kỹ thuật chọn giống và nhân giống: Trung tâm Dịch vụ Nông nghiệp huyện phối hợp cùng các viện nghiên cứu lâm nghiệp tuyển chọn và gắn mã số cho 50 đến 80 cây mẹ trội có chiều cao trên 15m, đường kính ngang ngực trên 40cm. Đặt mục tiêu sản xuất và cung ứng hàng năm 100.000 cây giống nuôi cấy mô hoặc gieo ươm hạt chất lượng cao từ năm 2023.

Thứ ba, áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh thâm canh: Hạt Kiểm lâm Bảo Lâm hướng dẫn chủ rừng thực hiện tỉa thưa nuôi dưỡng rừng ở giai đoạn 4 đến 5 năm tuổi, điều chỉnh độ tàn che lâm phần ở mức 0,4 đến 0,6. Mục tiêu chuyển hóa 200 ha rừng gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn đạt đường kính bình quân trên 35cm vào năm 2028.

Thứ tư, phát triển mô hình nông lâm kết hợp nâng cao thu nhập: Khuyến khích các hợp tác xã và hộ gia đình trồng xen cây ngắn ngày như dứa, chè, đỗ, lạc hoặc ngô trong 3 đến 5 năm đầu của chu kỳ rừng trồng. Giải pháp này giúp người dân có nguồn thu phụ từ 15 đến 20 triệu đồng/ha/năm trong khi chờ khai thác gỗ chính.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước và kiểm lâm: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm và Ủy ban nhân dân cấp huyện có thể sử dụng các số liệu thực chứng về mật độ (340 đến 520 cây/ha) và tổ thành loài để xây dựng phương án điều chế rừng, phục hồi rừng sau nương rẫy và phân bổ chỉ tiêu trồng rừng hàng năm.

Thứ hai, các nhà khoa học và sinh viên ngành Lâm học: Luận văn cung cấp nguồn tư liệu học thuật giá trị về phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn, ứng dụng hàm phân bố Weibull và tính toán các chỉ số đa dạng sinh thái (H', Simpson), làm cơ sở kế thừa cho các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về cây bản địa.

Thứ ba, doanh nghiệp lâm nghiệp và chủ rừng trang trại: Doanh nghiệp nắm vững các thông số kỹ thuật về điều kiện đất đai, chu kỳ kinh doanh 10 đến 12 năm và sản lượng khai thác dự kiến (120 đến 150 m3/ha) để lập kế hoạch đầu tư chuỗi giá trị chế biến gỗ xẻ và đồ mộc xuất khẩu.

Thứ tư, cộng đồng dân cư và hộ gia đình làm nghề rừng: Người dân vùng cao tiếp cận được cẩm nang kỹ thuật thực tiễn về thời vụ gieo ươm, xử lý hạt giống, kỹ thuật tỉa chồi tái sinh (tái sinh 3 đến 4 lần sau đốn hạ) để tự chủ sản xuất và nâng cao thu nhập kinh tế hộ.

Câu hỏi thường gặp

Cây Xoan ta có đặc tính sinh thái và tốc độ sinh trưởng như thế nào?

Xoan ta là cây thân gỗ bản địa ưa sáng hoàn toàn, biên độ sinh thái rộng, chịu được mùa đông khô rét vùng cao. Cây sinh trưởng rất nhanh trong giai đoạn đầu: đến 5 tuổi cây có thể cao 8 đến 10m, đường kính 15 đến 20cm; đến 10 đến 12 tuổi đường kính đạt 30 đến 35cm, cho năng suất khai thác từ 120 đến 150 m3/ha.

Vai trò của Xoan ta trong cấu trúc tầng tán rừng tự nhiên tại Bảo Lâm ra sao?

Trong các trạng thái rừng phục hồi IIA tại Bảo Lâm, Xoan ta giữ vị trí loài ưu thế với chỉ số IV% đạt tới 24,45%. Cây phân bố chủ yếu ở tầng tán chính A2 (chiều cao 10 đến 15m) và tầng vượt tán A1 (chiều cao từ 15m trở lên), đóng vai trò che chở và định hình cấu trúc tiểu khí hậu rừng.

Khả năng tái sinh tự nhiên của loài Xoan ta có những ưu điểm gì nổi bật?

Xoan ta sở hữu khả năng tái sinh mạnh mẽ bằng cả hạt và chồi rễ, chồi gốc. Hạt giống phát tán rộng nhờ chim chóc và tái sinh mạnh trên đất nương rẫy bỏ hóa có độ tàn che 0,3 đến 0,5. Đặc biệt, sau khi khai thác trắng lấy gỗ, gốc cây cũ có khả năng nảy chồi tái sinh liên tục từ 3 đến 4 chu kỳ.

Điều kiện thổ nhưỡng và địa hình nào thích hợp nhất để trồng cây Xoan ta?

Khảo sát phẫu diện đất cho thấy Xoan ta thích hợp nhất với đất feralit dày trên 50cm, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt trung bình, thoát nước tốt và tỷ lệ đá lẫn dưới 20%. Vị trí chân đồi và sườn thoải có độ dốc từ 25 đến 30 độ đem lại sinh trưởng tối ưu nhất.

Gỗ Xoan ta có đặc tính cơ lý và giá trị kinh tế thương mại như thế nào?

Gỗ Xoan ta thuộc nhóm VI, có vân đẹp, màu trắng hồng, tỷ trọng từ 0,50 đến 0,55, thớ mịn và rất dễ gia công chế biến nội thất. Sau khi ngâm nước xử lý từ 6 đến 12 tháng, gỗ có khả năng chịu mối mọt cao, ít cong vênh, rất được ưa chuộng trong sản xuất đồ gia dụng và ốp ván trần, sàn.

Kết luận

  • Xoan ta (Melia azedarach Linn) là cây gỗ bản địa có ưu thế sinh thái vượt bậc tại Bảo Lâm với chỉ số giá trị quan trọng IV% đạt từ 12,33% đến 24,45% ở các trạng thái rừng phục hồi.
  • Lâm phần nơi loài phân bố có tính đa dạng sinh học cao với 22 đến 30 loài cây gỗ, chỉ số Shannon-Wiener đạt 2,42 đến 2,84 và mật độ rừng đạt 340 đến 520 cây/ha.
  • Cây ưa sáng hoàn toàn, chiếm lĩnh tầng tán chính và vượt tán (chiều cao bình quân 10,2 đến 12,4m), sinh trưởng tốt nhất ở đất feralit sâu dày vùng chân và sườn đồi.
  • Khả năng sinh trưởng nhanh và tái sinh chồi 3 đến 4 chu kỳ giúp loài đạt sản lượng gỗ thương phẩm 120 đến 150 m3/ha sau 10 đến 12 năm, đáp ứng trọn vẹn mục tiêu phát triển rừng gỗ lớn.
  • Đóng góp chính của luận văn là hoàn thiện cơ sở dữ liệu lâm học thực nghiệm, định hướng kế hoạch hành động trồng 500 ha rừng gỗ lớn giai đoạn 2021 đến 2025.

Các cơ quan quản lý, doanh nghiệp chế biến và người làm nghề rừng hãy chủ động liên kết ứng dụng ngay các giải pháp kỹ thuật lâm sinh từ nghiên cứu này vào thực tiễn sản xuất nhằm phát huy tối đa tiềm năng kinh tế rừng vùng cao.