Tổng quan nghiên cứu

Huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình có tổng diện tích tự nhiên đạt 56.982,51 ha, trong đó diện tích rừng và đất lâm nghiệp chiếm tỷ lệ cao lên tới 85,22%, giữ vai trò phòng hộ xung yếu cho lưu vực thượng nguồn sông Đà và sông Mã. Dù diện tích rừng tự nhiên toàn quốc vào thời điểm cuối năm 2016 đạt khoảng 10.141 ha (chiếm 71,24% tổng diện tích có rừng với độ che phủ 41,19%), phần lớn các lâm phần tự nhiên đều đã trải qua khai thác quá mức dẫn đến tình trạng suy thoái nghiêm trọng về trữ lượng lẫn cấu trúc sinh thái. Vấn đề cốt lõi là sự thiếu hụt các nghiên cứu định lượng chuyên sâu về đặc điểm phục hồi của từng trạng thái rừng cụ thể tại vùng núi Tây Bắc, khiến việc áp dụng các biện pháp can thiệp kỹ thuật lâm sinh còn thiếu cơ sở vững chắc.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lâm học của tác giả Cù Thị Thanh Lộc tại Trường Đại học Lâm nghiệp tập trung giải quyết mục tiêu xác định đặc tính cấu trúc tầng cây cao và tầng cây tái sinh của các trạng thái rừng tự nhiên phục hồi sau khai thác, làm tiền đề đề xuất giải pháp kỹ thuật nuôi dưỡng phù hợp. Nghiên cứu được triển khai thực địa tại khu rừng cộng đồng xã Khăm Xòe, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình trong chu kỳ đào tạo 2015-2017 đối với hai đối tượng điển hình: trạng thái phục hồi sau khai thác kiệt hoặc nương rẫy (trạng thái IIB) và trạng thái phục hồi sau khai thác chọn (trạng thái IIIA3).

Ý nghĩa của công trình thể hiện qua việc cung cấp hệ thống số liệu định lượng chuẩn xác về mật độ cá thể, tổ thành loài và trữ lượng lâm phần, giúp cải thiện trữ lượng gỗ từ mức nghèo 74,4 - 87,0 m3/ha ở trạng thái IIB lên mức trung bình 130,8 m3/ha ở trạng thái IIIA3. Kết quả nghiên cứu đóng vai trò là luận cứ khoa học thực tiễn phục vụ công tác quy hoạch, xúc tiến tái sinh và quản lý rừng bền vững tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết cấu trúc lâm phần nhiệt đới kinh điển của Richards (1952) và Thái Văn Trừng (1978), khẳng định thảm thực vật rừng tự nhiên nhiệt đới là một chỉnh thể sinh thái phức tạp với sự phân hóa mạnh mẽ về không gian dinh dưỡng và tổ thành loài. Khung phân loại trạng thái rừng áp dụng thang tiêu chuẩn của Loeschau (1963), phân định ranh giới sinh thái giữa nhóm rừng phục hồi cây tiên phong ưa sáng sau khai thác kiệt (trạng thái IIB) và nhóm rừng thứ sinh đã qua khai thác chọn có tầng cây giữa vươn lên chiếm ưu thế sinh thái (trạng thái IIIA3).

Các khái niệm then chốt được tích hợp trong mô hình đánh giá gồm: Chỉ số giá trị quan trọng (IV%) của Curtis và McIntosh (1959) nhằm lượng hóa vai trò sinh thái của từng loài cây gỗ; Cấu trúc tầng thứ theo phương thẳng đứng phân chia thành tầng vượt tán, tầng tán chính và tầng dưới tán; Mô hình hàm phân bố thực nghiệm số cây theo đường kính (N/D1.3) và chiều cao (N/Hvn) nhằm mô phỏng quy luật phát triển tự nhiên của lâm phần hỗn giao khác tuổi.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp điều tra thực địa dựa trên hệ thống ô tiêu chuẩn điển hình tạm thời. Nghiên cứu thiết lập tổng cộng 9 ô tiêu chuẩn sơ cấp với diện tích 2.500 m2/ô (kích thước 50 m x 50 m), phân bổ đồng đều thành 3 ô cho mỗi đối tượng khảo sát gồm: trạng thái IIB khu vực 1, trạng thái IIB khu vực 2 và trạng thái IIIA3. Trong mỗi ô sơ cấp, tác giả bố trí 25 ô thứ cấp diện tích 100 m2 (10 m x 10 m) để đo đếm toàn diện các chỉ tiêu của cây gỗ lớn có đường kính ngang ngực từ 6 cm trở lên (D1.3), chiều cao vút ngọn (Hvn), đường kính tán (Dt) và phẩm chất cây (loại A, B, C), đạt tổng dung lượng mẫu 225 ô thứ cấp. Đồng thời, 4 ô dạng bản diện tích 25 m2 (5 m x 5 m) được lập tại 4 góc của mỗi ô sơ cấp (tổng số 36 ô dạng bản) nhằm đo đếm mật độ, nguồn gốc và sinh trưởng của tầng cây tái sinh có D1.3 nhỏ hơn 6 cm.

Phương pháp chọn mẫu điển hình được lựa chọn vì phản ánh trung thực đặc trưng của các trạng thái rừng phục hồi chịu tác động nhân vi ở các mức độ khác nhau. Toàn bộ nguồn dữ liệu thu thập trong giai đoạn 2015-2017 được phân tích thống kê trên phần mềm Excel và SPSS. Tác giả sử dụng kiểm định Chi bình phương để so sánh mức độ phù hợp giữa số liệu thực tế với phân bố Khoảng cách và phân bố hàm mũ Meyer, kết hợp kiểm định tiêu chuẩn U của Clark và Evans nhằm xác định chính xác kiểu phân bố không gian mặt phẳng của cây rừng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về mật độ và trữ lượng lâm phần, trạng thái phục hồi sau khai thác chọn IIIA3 thể hiện các chỉ tiêu sinh trưởng vượt trội với mật độ bình quân 900 cây/ha, đường kính D1.3 trung bình 14,5 cm, chiều cao Hvn 12,4 m, tổng tiết diện ngang 18,8 m2/ha và trữ lượng gỗ đạt 130,8 m3/ha. Ngược lại, trạng thái IIB khu vực 1 đạt mật độ 811 cây/ha, D1.3 trung bình 12,9 cm, trữ lượng 74,4 m3/ha; trạng thái IIB khu vực 2 đạt mật độ 955 cây/ha, D1.3 trung bình 12,9 cm, trữ lượng 87,0 m3/ha, thấp hơn trạng thái IIIA3 từ 33,4% đến 43,1% về tổng trữ lượng gỗ.

Thứ hai, về chất lượng cây gỗ, tỷ lệ cây đạt phẩm chất tốt loại A ở trạng thái IIIA3 đạt 31,1%, cao hơn đáng kể so với mức 22,8% - 23,1% ở trạng thái IIB. Phần lớn cây gỗ lớn trong các lâm phần khảo sát tập trung ở mức chất lượng trung bình loại B, dao động từ 47,5% (ở IIIA3) đến 57,5% (ở IIB khu vực 1), trong khi tỷ lệ cây xấu loại C duy trì trong khoảng 19,4% đến 21,4%.

Thứ ba, về đa dạng tổ thành loài, kết quả ghi nhận từ 57 đến 62 loài cây gỗ xuất hiện trong các trạng thái rừng, hình thành nên 6 ưu hợp thực vật chính theo tiêu chuẩn của Thái Văn Trừng. Trạng thái IIB bị chi phối bởi các loài tiên phong ưa sáng như Chẹo tía, Sữa lá nhỏ, Thành ngạnh, Bưởi bung. Trạng thái IIIA3 có sự xuất hiện nổi bật của các loài cây gỗ trung tính và chịu bóng có giá trị cao như Nanh chuột (IV% đạt 15,6%), Xoan đào (IV% đạt 6,1%), Bản xe, Côm tầng và Trâm núi.

Thứ tư, về cấu trúc không gian, trạng thái IIIA3 đã hình thành 3 tầng tán rõ rệt với tầng vượt tán đạt chiều cao 20,6 m (chiếm 7,42% số cây), tầng tán chính cao 15,3 m (chiếm 38,81%) và tầng dưới tán cao 9,3 m (chiếm 53,77%). Trong khi đó, trạng thái IIB hoàn toàn chưa có tầng vượt tán, tỷ lệ cây tầng dưới tán chiếm ưu thế áp đảo từ 91,36% đến 92,71%. Mô hình phân bố số cây theo đường kính N/D1.3 tuân theo quy luật phân bố Khoảng cách tại 66,7% tổng số ô tiêu chuẩn điều tra, chứng minh số lượng cá thể giảm liên tục từ các cỡ kính nhỏ dưới 18 cm đến các cỡ kính lớn trên 34 cm chỉ còn 1-4 cây/cỡ.

Thảo luận kết quả

Sự khác biệt rõ rệt về cấu trúc giữa hai trạng thái bắt nguồn từ cường độ và phương thức khai thác trong quá khứ. Khai thác kiệt và canh tác nương rẫy ở trạng thái IIB đã phá vỡ toàn bộ cấu trúc tán rừng nguyên thủy, buộc thảm thực vật phải tái sinh từ lớp cây tiên phong mọc nhanh, dẫn đến tình trạng ứ đọng trên 91% số cây ở tầng dưới tán và trữ lượng gỗ chỉ ở mức nghèo dưới 90 m3/ha. Trong khi đó, khai thác chọn ở trạng thái IIIA3 vẫn giữ lại được nguồn cây mẹ gieo giống và tán che cần thiết, tạo điều kiện thuận lợi cho các loài cây gỗ mục đích tái sinh và phát triển thành tầng vượt tán cao trên 20 m.

Kết quả này hoàn toàn tương thích với các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước tại khu vực Nghệ An và Hương Sơn, khẳng định phương thức khai thác chọn giúp bảo tồn cấu trúc tầng thứ ổn định hơn khai thác kiệt. Về mặt trực quan, dữ liệu thực nghiệm được minh họa rõ nét qua biểu đồ hình cột so sánh trữ lượng giữa các ô tiêu chuẩn và đồ thị đường cong phân bố N/D1.3 dạng chữ J lệch trái mô phỏng bằng hàm khoảng cách. Biểu đồ phản ánh quy luật đào thải tự nhiên điển hình của rừng nhiệt đới phục hồi, nơi mật độ cây con tập trung rất cao nhưng thiếu hụt trầm trọng các cây gỗ lớn thành thục.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao chất lượng và xúc tiến quá trình phục hồi rừng tự nhiên tại huyện Mai Châu, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp kỹ thuật lâm sinh cụ thể:

Thứ nhất, thực hiện biện pháp tỉa thưa nuôi dưỡng và vệ sinh rừng đối với trạng thái IIB khu vực 1 và khu vực 2 trong giai đoạn 2018-2020. Ban quản lý rừng cộng đồng xã Khăm Xòe cần tổ chức phát dọn dây leo, bụi rậm và chặt loại bỏ các cây phẩm chất xấu loại C (hiện chiếm 19,4% - 21,4%), tạo không gian dinh dưỡng và ánh sáng cho các cây phẩm chất loại A và B phát triển, hướng đến mục tiêu nâng tỷ lệ cây phẩm chất loại A từ 23% lên trên 35% sau 5 năm nuôi dưỡng.

Thứ hai, triển khai làm giàu rừng bằng cách trồng bổ sung các loài cây bản địa có giá trị kinh tế và sinh thái cao như Xoan đào, Dẻ lỗ, Giổi bà và Re gừng vào các khoảng trống dưới tán rừng trạng thái IIB và IIIA3. Hạt Kiểm lâm huyện Mai Châu phối hợp với cộng đồng địa phương tiến hành trồng bổ sung với mật độ từ 300 đến 500 cây/ha, hoàn thành trong giai đoạn 2018-2022 nhằm tăng chỉ số giá trị quan trọng IV% của nhóm cây gỗ mục đích lên trên 25%.

Thứ ba, thiết lập hành lang bảo vệ nghiêm ngặt đối với trạng thái rừng IIIA3, nghiêm cấm khai thác tận thu các cây tầng vượt tán có chiều cao trên 20 m để bảo vệ nguồn hạt giống tự nhiên. Ủy ban nhân dân huyện Mai Châu cần ban hành quy chế quản lý rừng cộng đồng bền vững, đặt mục tiêu duy trì độ tàn che lâm phần trên 0,7 và nâng trữ lượng bình quân từ 130,8 m3/ha lên trên 160 m3/ha vào năm 2025.

Thứ tư, ứng dụng mô hình số hóa trong theo dõi động thái cấu trúc lâm phần định kỳ 2 năm một lần. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Mai Châu chủ trì đo đếm lại hệ thống 9 ô tiêu chuẩn cố định, sử dụng phần mềm thống kê kiểm định phân bố N/D và chỉ số IV% để đánh giá tốc độ sinh trưởng sinh khối, từ đó kịp thời điều chỉnh các can thiệp lâm sinh phù hợp với thực tế.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn cao đối với 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Thứ nhất, cán bộ quản lý lâm nghiệp và Ban quản lý rừng cộng đồng tại các huyện miền núi thuộc tỉnh Hòa Bình và khu vực Tây Bắc. Luận văn cung cấp hướng dẫn chi tiết về kỹ thuật điều tra ô tiêu chuẩn, phân loại phẩm chất cây rừng và phương pháp phân định trạng thái rừng phục hồi theo Thông tư 34/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Thứ hai, các kỹ sư lâm sinh và cán bộ kỹ thuật tại các công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn. Dữ liệu về công thức tổ thành loài theo chỉ số IV% và mô hình phân bố số cây theo đường kính là căn cứ chuẩn xác để xây dựng hồ sơ thiết kế bài cây tỉa thưa, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung cây bản địa.

Thứ ba, các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng và Sinh thái học môi trường. Đề tài đóng vai trò là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp kết hợp điều tra sinh thái thực địa với mô hình hóa toán học thông qua hàm Meyer, phân bố Khoảng cách và kiểm định U của Clark-Evans trên phần mềm SPSS.

Thứ tư, các tổ chức phi chính phủ và cơ quan điều phối các chương trình chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES). Báo cáo cung cấp các chỉ số định lượng về trữ lượng sinh khối từ 74,4 đến 130,8 m3/ha và cấu trúc phân tầng phòng hộ tại lưu vực sông Đà, làm cơ sở tin cậy để thẩm định hiệu quả các dự án phục hồi cảnh quan rừng tự nhiên.

Câu hỏi thường gặp

Phương pháp phân loại trạng thái rừng trong nghiên cứu này dựa trên cơ sở khoa học nào? Nghiên cứu áp dụng bảng phân loại của Loeschau (1963) kết hợp quy định của ngành lâm nghiệp Việt Nam. Trạng thái IIB đại diện cho rừng phục hồi sau nương rẫy hoặc khai thác kiệt với đường kính D1.3 trung bình 12,9 cm, trong khi trạng thái IIIA3 là rừng phục hồi sau khai thác chọn có trữ lượng đạt 130,8 m3/ha.

Tại sao mô hình phân bố Khoảng cách lại thích hợp hơn hàm Meyer trong nghiên cứu này? Kết quả kiểm định Chi bình phương với độ tin cậy 95% cho thấy 66,7% số ô tiêu chuẩn tuân theo phân bố Khoảng cách, trong khi chỉ có 33,3% tuân theo hàm Meyer. Phân bố Khoảng cách mô phỏng chính xác hơn hiện tượng giảm liên tục dạng chữ J của mật độ cây ở các cỡ kính nhỏ dưới 18 cm.

Chỉ số giá trị quan trọng IV% phản ánh điều gì trong cấu trúc rừng phục hồi tại Mai Châu? Chỉ số IV% tổng hợp từ tỷ lệ số cây, tiết diện ngang và tần số xuất hiện của từng loài. Kết quả chỉ ra các loài ưu thế sinh thái như Chẹo tía, Sữa lá nhỏ ở trạng thái IIB và Nanh chuột (15,6%), Xoan đào (6,1%), Bản xe ở trạng thái IIIA3, làm căn cứ chọn cây mục đích nuôi dưỡng.

Sự khác biệt về cấu trúc tầng thứ giữa trạng thái IIB và IIIA3 là gì? Trạng thái IIIA3 đã phân hóa thành 3 tầng hoàn chỉnh gồm tầng vượt tán cao 20,6 m (chiếm 7,42%), tầng tán chính cao 15,3 m (chiếm 38,81%). Ngược lại, trạng thái IIB chưa có tầng vượt tán và có tới 91,36% - 92,71% số cây tập trung ở tầng dưới tán cao dưới 10 m do lâm phần còn non trẻ.

Các giải pháp kỹ thuật lâm sinh nào cần được ưu tiên triển khai ngay? Hai giải pháp ưu tiên hàng đầu là tỉa thưa vệ sinh loại bỏ 19,4% - 21,4% cây phẩm chất xấu loại C ở trạng thái IIB, kết hợp trồng dặm bổ sung các loài cây bản địa có giá trị như Xoan đào, Dẻ lỗ với mật độ 300-500 cây/ha nhằm thúc đẩy rừng sớm đạt cấu trúc ổn định.

Kết luận

Nghiên cứu của tác giả Cù Thị Thanh Lộc đã mang lại những đóng góp khoa học và thực tiễn quan trọng trong việc lượng hóa cấu trúc rừng tự nhiên phục hồi sau khai thác tại Mai Châu, Hòa Bình:

  • Định lượng chính xác trữ lượng gỗ lâm phần biến động từ mức nghèo 74,4 m3/ha (ở trạng thái IIB) đến mức trung bình 130,8 m3/ha (ở trạng thái IIIA3) trên hệ số mẫu 9 ô tiêu chuẩn sơ cấp.
  • Đánh giá cụ thể chất lượng cây gỗ với tỷ lệ cây phẩm chất loại A đạt 31,1% ở trạng thái IIIA3 và xác định trên 47,5% số cây đạt chất lượng loại B ở các lâm phần.
  • Phân tích chi tiết 6 ưu hợp thực vật dựa trên chỉ số IV%, ghi nhận sự xuất hiện của các loài gỗ có giá trị như Xoan đào, Bản xe, Dẻ lỗ, Sữa lá nhỏ.
  • Chứng minh tính ưu việt của mô hình phân bố Khoảng cách trong việc mô phỏng quy luật N/D1.3 tại 66,7% số ô tiêu chuẩn và chỉ rõ sự thiếu hụt tầng vượt tán ở trạng thái IIB.
  • Xây dựng hệ thống giải pháp kỹ thuật lâm sinh đồng bộ với lộ trình can thiệp giai đoạn 2018-2025 giúp nâng cao trữ lượng và bảo vệ môi trường sinh thái đầu nguồn.

Công trình là tài liệu tham khảo nền tảng cho công tác quản trị và phục hồi tài nguyên rừng bền vững tại khu vực Tây Bắc. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và kỹ sư lâm sinh hãy áp dụng ngay các phát hiện này vào thực tiễn để chung tay bảo tồn hệ sinh thái rừng tự nhiên Việt Nam.