phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án đƣợc trình bày trong 4 chƣơng: - Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu, đánh giá cảnh quan khu vực miền núi cho định hƣớng phát triển nông lâm nghiệp. Đặc điểm phân hóa cảnh quan huyện miền núi Quỳ Châu. Đánh giá cảnh quan phục vụ định hƣớng không gian phát triển nông lâm nghiệp huyện miền núi Quỳ Châu.
Xác lập mô hình hệ kinh tế sinh thái trên cơ sở nghiên cứu cảnh quan khu vực Châu Hạnh - thị trấn Tân Lạc. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN KHU VỰC MIỀN NÚI CHO ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN NÔNG LÂM NGHIỆP 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Phần này trình bày những nội dung tổng quan về nghiên cứu, đánh giá cảnh quan, đặc biệt là cảnh quan miền núi cho định hƣớng phát triển nông lâm nghiệp; nghiên cứu xác lập các mô hình KTST miền núi gắn với cộng đồng dân tộc địa phƣơng (chú trọng tới cộng đồng ngƣời Thái).
Nghiên cứu lý luận về cảnh quan * Quan niệm cảnh quan theo nghĩa phong cảnh Theo quan điểm này, cảnh quan đƣợc xem là “. phần không gian xung quanh có thể quan sát đƣợc (the visual surroundings),. bao gồm cả phần con ngƣời có thể cảm nhận đƣợc” (Grano, 1928, p. Trong Từ điển Tiếng Việt (1988), cảnh quan hay phong cảnh là “.
những cảnh thiên nhiên bày ra trước mắt”. Hàn Tất Ngạn (2012) cho rằng cảnh quan là “. những phần thiên nhiên và nhân tạo mang đến cho con người những cảm xúc và tâm trạng khác nhau”, do đó đƣợc xác định là “đối tượng có ý nghĩa quan trọng trong lĩnh vực kiến trúc cảnh quan” [53]. Về quy mô không gian, khái niệm cảnh quan đƣợc quan niệm rộng hơn khái niệm phong cảnh: “.
một tổ hợp phong cảnh có thế khác nhau, tạo ra một biểu tượng thống nhất về cảnh chung của địa phương. Quan điểm phong cảnh về cảnh quan có ý nghĩa thực tiễn rất lớn, đặc biệt trong lĩnh vực kiến trúc cảnh quan và nghiên cứu phát triển du lịch. Các nhà địa lý đƣơng đại đã hình thành các ý tƣởng về quy hoạch chi tiết các cảnh quan văn hóa nhƣ dân cƣ, đô thị, công viên hoặc vƣờn thực vật. * Quan điểm địa lý học về cảnh quan: Cảnh quan được quan niệm là địa tổng thể (geocomplex): còn có thể hiểu cảnh quan là tổng hợp thể lãnh thổ: “cảnh quan là toàn bộ đặc tính của một vùng trên Trái Đất.
Tại khu vực nƣớc Nga và Đông Âu, cảnh quan đƣợc quan niệm là thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên ở bất cứ cấp phân vị nào. Theo quan điểm hệ thống, Ixatsenko (1991) cho rằng "cảnh quan như một địa hệ", bởi lẽ cảnh quan là một phức hợp bao gồm các bộ phận cấu thành (đá mẹ, địa hình, khí hậu, thủy văn, thổ 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhƣỡng và thực vật,.) tác động lẫn nhau bởi các dòng vật chất và năng lƣợng, đã đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn của một hệ thống (theo quan niệm của Harvey, 1969). Ở Việt Nam, cảnh quan đƣợc hiểu theo nghĩa là tổng hợp thể tự nhiên. Quan điểm này đƣợc phản ánh trong các công trình nghiên cứu cảnh quan miền Bắc Việt Nam của Vũ Tự Lập (1976) [47], nghiên cứu tổng hợp thể lãnh thổ tự nhiên nhiệt đới tại Thuận Hải [32], nghiên cứu cảnh quan phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên trong lãnh thổ Việt Nam [18], cùng các công trình nghiên cứu cảnh quan tiêu biểu ở các khu vực khác nhau trong lãnh thổ Việt Nam của các nhà địa lý.
* Quan niệm cảnh quan là những cá thể địa lý: Nghiên cứu của các nhà địa lý nƣớc Xô Viết là Berg, Grigoriev, Kalexnik, Ixatsenko dựa trên quan niệm “cảnh quan là những cá thể địa lý không lặp lại, là một bộ phận riêng biệt trong không gian, được quy định bởi vị trí địa lý của đơn vị cảnh quan” [44]. Theo nghĩa này, cảnh quan là đơn vị cơ bản của phân vùng địa lý tự nhiên, có ranh giới xác định và chỉ tiêu phân loại rõ ràng. Ở Việt Nam, quan điểm cảnh quan là cá thể địa lý đƣợc thể hiện trong các công trình nghiên cứu cảnh quan địa lý miền Bắc của Vũ Tự Lập (1976): cảnh quan miền Bắc Việt Nam đƣợc chia thành 2 miền, 3 đai cao với. cá thể cảnh quan [47].
Sau này các nhà cảnh quan học Việt Nam cũng đã "cá thể hóa" các vùng cảnh quan cho lãnh thổ Việt Nam (Phạm Hoàng Hải và nnk, 1997) [18], miền Nam Việt Nam (Trƣơng Quang Hải, 1991) [150], lãnh thổ Thuận Hải (Bình Thuận và Ninh Thuận) (Nguyễn Cao Huần, 1992) [32]. * Quan niệm cảnh quan là đơn vị kiểu loại (loại hình): Quan niệm này thể hiện trong các nghiên cứu của các nhà địa lý Xô Viết là Polƣnov, Markov, Perelman, Gvozdetxky và Nhikolaiev. Theo đó, cảnh quan là địa tổng thể, tập hợp một số tính chất chung điển hình cho khu vực này hoặc khu vực khác, không phụ thuộc vào đặc điểm phân bố của chúng. Ở Châu Âu, khái niệm cảnh quan đã đƣợc phân tích ở nhiều góc độ khác nhau.
Bộ phận nhìn thấy là tổ hợp giữa đƣờng nét sơn văn của địa hình và lớp phủ mặt đất, tạo nên “phong cảnh”. Bộ phận không nhìn thấy bao gồm cả những giá trị tinh thần mà con ngƣời cảm nhận đƣợc và những giá trị chức năng của cảnh quan. Quan niệm trên không mâu thuẫn với những quan niệm của trƣờng phái Nga ở khía cạnh: chỉ cụ thể hóa, giúp ngƣời nghiên cứu cảnh quan dễ dàng nhận biết cảnh quan ngay từ khi nhìn thấy, đồng thời lý giải tại sao tên gọi của cảnh quan thƣờng gắn với địa hình và lớp phủ sử dụng đất (land use)/lớp phủ 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mặt đất (land cover). Ở Việt Nam, hầu hết các nhà cảnh quan đều quan niệm cảnh quan là đơn vị kiểu loại và tiến hành xây dựng hệ thống phân loại, chỉ tiêu cho các cấp phân loại đó trên lãnh thổ cả nƣớc hoặc các vùng lãnh thổ khác nhau [4, 18, 32],.
Cần chú ý rằng, mặc dù có những quan niệm khác nhau về cảnh quan, tuy nhiên tất cả đều thống nhất: cảnh quan là một tổng hợp thể tự nhiên nhƣ một địa hệ thống. Quan niệm cá thể cảnh quan chặt chẽ hơn vì đơn vị cá thể là một địa hệ thống cụ thể, còn đơn vị kiểu loại là từng nhóm cá thể đƣợc phân loại theo một số dấu hiệu chung. Quan niệm kiểu loại đƣợc ứng dụng nhiều hơn khi xây dựng bản đồ cảnh quan các cấp. Shinshenko (1988) đƣa ra quan điểm tổng quát về cảnh quan, khác với các quan niệm trƣớc đó.
Tác giả nhấn mạnh cần phải hiểu ở cả 3 khía cạnh: cảnh quan như một khái niệm chung chỉ một địa hệ thống hay tổng hợp thể lãnh thổ tự nhiên của bất kì lãnh thổ nào, cảnh quan là đơn vị loại hình (các đơn vị loại cảnh quan các cấp: kiểu, lớp, loại,.) và cảnh quan là đơn vị cá thể. Ví dụ: một khoanh vi cảnh quan bất kì nào trƣớc hết là một tổng hợp thể tự nhiên (theo khái niệm chung); trong khi đó, bản thân nó vừa là một cá thể (mang tính cá thể), vừa là một bộ phận nằm trong một đơn vị mang tính kiểu loại (mang tính loại hình) [dẫn theo 32]. Từ phân tích các công trình trên có thể thấy: các quan niệm về cảnh quan của các nhà địa lý trong và ngoài nước đều thống nhất coi cảnh quan là một tổng hợp thể lãnh thổ - địa hệ thống ở các cấp khác nhau, vừa mang tính cá thể, vừa mang tính kiểu loại, bao gồm cả bộ phận nhìn thấy và bộ phận “tư duy”, giá trị chức năng trong mối quan hệ tương tác. Nhận thức đúng về cảnh quan chính là nguồn tri thức khoa học để lựa chọn, sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu hợp lý và thực hiện cho lãnh thổ cụ thể.
* Các nghiên cứu về cảnh quan nhân sinh và cảnh quan văn hóa Thuật ngữ cảnh quan nhân sinh (anthropogenic landscape) và cảnh quan văn hóa (cultural landscape) đƣợc sử dụng phổ biến trong các công trình nghiên cứu của các nhà địa lý trong và ngoài nƣớc. Nhà địa lý học Xô Viết Gozep đề cập tới khái niệm cảnh quan nhân sinh (CQNS) vào năm 1929. Đến năm 1973, Minkov đã đƣa ra định nghĩa về CQNS. Ở Châu Âu, cảnh quan văn hóa đƣợc đề cập trong các công trình nghiên cứu của nhiều nhà địa lý.
Antrop cũng rằng: “cảnh quan là một vùng được đặc trưng bởi sự tương tác giữa các yếu tố tự nhiên và con người” [122]. Nhƣ vậy, trong CQNS, con ngƣời và tự nhiên thống nhất trong một địa hệ. Ở Hoa Kỳ, Carl Sauer định nghĩa cảnh quan văn hóa nhƣ là đơn vị cơ bản của địa lý; là kết quả của sự tƣơng tác giữa 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com con ngƣời và môi trƣờng vật lý [127]. Hiện tại, khái niệm cảnh quan văn hóa đƣợc hiểu theo hai cách.
Theo cách hiểu thứ nhất, cảnh quan văn hóa là cảnh quan tự nhiên thay đổi một cách đúng hƣớng trên cơ sở nghiên cứu các kinh nghiệm xã hội, con ngƣời và các tƣ liệu khoa học (Ixatsenko, 1991, tr. Theo cách hiểu thứ hai, mọi cảnh quan bị biến đổi hoặc đƣợc xây dựng bởi con ngƣời đều là cảnh quan văn hóa, nghĩa là nội hàm của cảnh quan đã chứa đựng yếu tố văn hóa của con ngƣời. Những tiêu chí xác định cảnh quan văn hóa đƣợc nêu ra trong quan điểm của Ixatsenko: “cảnh quan văn hóa là cảnh quan trong đó cấu trúc được thay đổi một cách hợp lý và được tối ưu hóa trên cơ sở khoa học phục vụ cho lợi ích xã hội. cảnh quan văn hóa là cảnh quan của tương lai, vì thế phải được nghiên cứu riêng” [43].
Các nguyên tắc chính tổ chức cảnh quan văn hóa và điều chỉnh quá trình chức năng (chức năng hóa cảnh quan) cần đƣợc đặc biệt quan tâm. Ở Việt Nam, Nguyễn Cao Huần và Trần Anh Tuấn (2002) dựa trên quan điểm hệ thống đã phân tích cảnh quan nhân sinh nhƣ một địa hệ thống tự nhiên - nhân sinh trong đó các hợp phần tự nhiên, nhân tạo tác động qua lại lẫn nhau, hoạt động của con ngƣời là yếu tố thành tạo và quản lý cảnh quan [38].