mở đầu và kết luận, luận án trình bày trong 3 chƣơng gồm có 29 hình (trong đó có 20 bản đồ, 2 lát cắt) và 60 bảng số liệu. Ngoài ra còn có phần phụ lục minh hoạ, kèm theo danh mục tài liệu tham khảo. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phân tích, đánh giá cảnh quan Chƣơng 2: Đặc điểm cảnh quan ba huyện biên giới Tây Nam tỉnh Nghệ An Chƣơng 3: Đánh giá cảnh quan và định hƣớng sử dụng cảnh quan phục vụ mục đích phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và bảo tồn đa dạng sinh học. 5 z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN 1.
Tổng quan các công trình nghiên cứu cảnh quan trong và ngoài nƣớc 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu cảnh quan trên thế giới Trong phạm vi những công trình liên quan đến nghiên cứu cảnh quan mà tác giả luận án đã tham khảo của các tác giả trên thế giới, có thể đúc kết đƣợc các hƣớng nghiên cứu cảnh quan chính nhƣ sau: (1). Hướng nghiên cứu về lý luận cảnh quan: Khái niệm “Cảnh quan” trong khoa học Địa lý, đƣợc L.Becgơ đƣa ra vào năm 1913:“Cảnh quan địa lý là một hợp phần hay một nhóm các sự vật, hiện tượng, trong đó đặc biệt là địa hình, khí hậu, nước, đất, thực vật và động vật cũng như hoạt động của con người tương tác với nhau trong một thể thống nhất hoà hợp”. Ông cho rằng, chính cảnh quan là đối tƣợng nghiên cứu của Địa lý, với quan điểm xác định cảnh quan thiên nhiên nhƣ là một đơn vị lãnh thổ, trong đó đặc điểm địa hình, khí hậu, thực vật và lớp phủ thổ nhƣỡng hợp nhất với nhau thành một thể toàn vẹn, thống nhất [41].
Cũng vào khoảng thời gian này, G. Môrôzôv đánh giá cao tầm quan trọng của nghiên cứu phân vùng cảnh quan; ông cho rằng “Kết quả cuối cùng của sự nghiên cứu lịch sử thiên nhiên lãnh thổ phải là sự phân chia chúng ra thành một loạt các đơn vị cảnh quan toàn vẹn, hay là các đơn vị địa lý cá thể” [41]. Đây cũng chính là nhiệm vụ xác lập cấu trúc lãnh thổ. Lý luận và thực tiễn nghiên cứu cảnh quan tiếp tục hoàn thiện trong giai đoạn giữa thế kỷ XX, với sự đóng góp của các nhà khoa học Địa lý Xô Viết nhƣ S.
Ixatsenko phục vụ mục đích phát triển nền kinh tế quốc dân. Xontxev đã trình bày những lý luận đầu tiên trên cơ sở phát triển các quan niệm về cảnh quan trong các công trình trƣớc đó của L.Kalexnhik và đƣa ra một cái nhìn mới, rõ ràng hơn về hình thái cảnh quan [41]. Nhìn chung, các nghiên cứu cảnh quan của các nhà địa lý Xô Viết có giá trị cao về mặt lý luận trong việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trƣờng. Đặc biệt, Hội nghị chuyên đề Cảnh quan học diễn ra ở Lêningrat vào năm 1955 và các Hội nghị khoa học về các vấn đề Cảnh quan học đƣợc tổ chức gần nhƣ hàng năm đã công bố nhiều công trình nghiên cứu cảnh quan.
Đây đƣợc coi nhƣ là hoạt động thƣờng niên giúp các nhà cảnh quan hoàn thiện lý luận, phƣơng pháp nghiên cứu, ứng 6 z dụng Cảnh quan học, cũng nhƣ mở rộng các công trình nghiên cứu và thành lập bản đồ cảnh quan nhiều tỷ lệ khác nhau. Bên cạnh đó, các nghiên cứu về nguyên tắc, phƣơng pháp xây dựng bản đồ, phân loại cảnh quan, vấn đề sử dụng học thuyết cảnh quan trong thực tiễn cũng đƣợc thể hiện qua các công trình của N. Trong hƣớng nghiên cứu về lý luận cảnh quan cũng có nhiều công trình liên quan đến các vấn đề nhƣ quần hệ sinh vật, địa hoá học cảnh quan, phân vùng địa lý tự nhiên. Hƣớng nghiên cứu định lƣợng trong cảnh quan cũng đƣợc quan tâm với các nghiên cứu của B.
Pôlƣnôp và tiếp đó A. Perelman đã nghiên cứu về sự di động của các nguyên tố hoá học trong cảnh quan và phân chia cảnh quan.Armand đề xuất hƣớng nghiên cứu địa vật lý cảnh quan. Ông đã sử dụng các phƣơng pháp vật lý hiện đại để nghiên cứu mối tác động qua lại giữa các thành phần cấu tạo nên cảnh quan [23,38]. Khai thác TNTN phục vụ sản xuất cần phải hiểu rõ quy luật của tự nhiên, quá trình vận động và biến đổi của tự nhiên, nên CQ học không thể dừng lại ở việc nghiên cứu phân hóa các khu vực ĐLTN, mà phải đi vào nghiên cứu cấu trúc, đồng thời với nghiên cứu chức chức năng và động lực CQ [11].
Quan niệm về cấu trúc CQ hiện nay chƣa thống nhất, có nhiều định nghĩa về cấu trúc CQ. Nhìn chung, các tác giả đề cập đến cấu trúc không gian (gồm cấu trúc đứng và cấu trúc ngang) và cấu trúc thời gian (chu kì mùa, chu kì ngày đêm. Việc nghiên cứu cấu trúc CQ đƣợc rất nhiều tác giả quan tâm nhƣ: X. Nghiên cứu chức năng CQ cũng đƣợc đề cập đến trong nhiều công trình: A.
Ixatsenko (1961), Forman (1981), De Groot (1992)… Cũng nhƣ nghiên cứu cấu trúc, nghiên cứu chức năng CQ có nhiều quan niệm khác nhau. Bên cạnh đó, chức năng của CQ đƣợc hiểu là lợi ích mà con ngƣời thu đƣợc từ các thuộc tính và quá trình của CQ nhƣ Niemann (1977), De Groot (1992) đã quan niệm… Do đó, có nhiều hệ 7 z thống phân loại chức năng CQ. Chức năng CQ gồm chức năng tự nhiên, chức năng KT-XH, chức năng BVMT. Thực tế thì tiềm năng và khả năng cung cấp vật chất và phi vật chất của CQ đáp ứng nhu cầu xã hội là rất lớn, rất đa dạng.
Vì vậy, trong quy hoạch CQ còn phổ biến thuật ngữ CQ đa chức năng (nhất là ở châu Âu) [58]. Nghiên cứu động lực CQ cũng rất đƣợc chú trọng, nhất là trong nghiên cứu sinh thái CQ (nghiên cứu động lực CQ trong nghiên cứu sinh thái CQ). Garigal (2002), động lực CQ là “cơ chế biến đổi cấu trúc và các quá trình của hệ sinh thái trong CQ theo thời gian”. Tuy nhiên, cho đến nay, rất ít các công trình nghiên cứu riêng biệt về động lực CQ [56].
Từ những năm 1970, ngoài những nghiên cứu CQ tự nhiên còn có những nghiên cứu theo hƣớng mở rộng nhƣ nghiên cứu CQ văn hóa, CQ nhân sinh. Đồng thời với việc mở rộng phạm vi nghiên cứu, CQ học còn đi sâu nghiên cứu từng hợp phần CQ trong mối quan hệ với các khoa học liên ngành nhƣ: Địa vật lý cảnh quan, Địa hóa CQ [25], sinh thái CQ [56,58]. (3) Hướng nghiên cứu cảnh quan gắn với sinh thái học và động lực cảnh quan ở Tây Âu và Châu Mỹ: Trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX , ở Tây Âu cũng đã phát triển khoa học cảnh quan.Passarge (1867 – 1958) đã công bố công trình lý thuyết về địa lý cảnh quan độc lập với các nghiên cứu ở Nga. Từ đó đến nay, trƣờng phái này vẫn là một trong các trung tâm nghiên cứu cảnh quan và quy hoạch cảnh quan lớn của thế giới.
[50] Giai đoạn này cũng đánh dấu sự phát triển của Hiệp hội các nhà Địa lý Mỹ trong việc nghiên cứu sinh thái cảnh quan. Nổi bật là Havery (1969) và Chorley et Haggett (1976), với các phƣơng pháp luận trong sinh thái cảnh quan của hai ông đã đƣợc tiếp tục phát triển và kế thừa sau này. Hƣớng nghiên cứu động lực cảnh quan cũng đã đƣợc quan tâm nghiên cứu. Đây đƣợc coi là một phƣơng diện quan trọng đánh giá tác động qua lại giữa sinh vật với môi trƣờng, sự xáo trộn nơi sống và da dạng sinh học[57].
Mối tƣơng quan, tác động tƣơng hỗ giữa sự biến đổi cảnh quan nhân sinh và văn hóa, cũng nhƣ sinh thái học đƣợc thể hiện qua việc lý giải sự hình thành cảnh quan miền Tây nƣớc Mỹ và những biến đổi của cảnh quan kể từ khi ngƣời Âu - Mỹ đến định cƣ. Theo đó, Johannessen đã đƣa ra các bằng chứng về quá trình biến đổi ở thung lũng Williamtte trong suốt 100 năm qua với một loạt các bản đồ lịch sử và những ghi chép có đƣợc. 8 z Còn có hƣớng nghiên cứu các quá trình và các mô hình sinh học theo không gian thông qua điều tra các tác động của các yếu tố văn hoá, vật chất, sinh học đến sự phân bố cây trồng, vật nuôi và các tác động qua lại lên chu trình sinh học.Hướng nghiên cứu cảnh quan ứng dụng: Từ những năm 1990 trở lại đây, hƣớng nghiên cứu CQ ứng dụng phát triển mạnh mẽ và đƣợc các nhà địa lý Nga và các nƣớc Đông Âu quan tâm, đƣợc vận dụng ngày càng nhiều vào thực tiễn phát triển KT-XH của các vùng, quốc gia, lãnh thổ trên thế giới. Các công trình nghiên cứu CQ của Nga và một số nƣớc nhƣ Ucraina, Belorutxia, Litva, Ba Lan, Tiệp Khắc…đều dựa trên Cảnh quan học cơ bản và thống nhất quan điểm trong nghiên cứu CQ ứng dụng cho các mục đích khác nhau [42]: - Về hƣớng nghiên cứu phân vùng CQ lãnh thổ Liên bang Nga, nổi bật có công trình của I.
Gheraximov (1972) phân chia Liên bang Nga thành 17 miền CQ khác nhau và đƣợc ứng dụng trong các mục đích xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đất nƣớc. - Bacglanov tiến hành nghiên cứu, đánh giá tính đa dạng của CQ vùng Viễn Đông, Liên bang Nga và đã đƣa ra những cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ phát triển KT-XH, đảm bảo an ninh quốc phòng của đất nƣớc vào cuối thế kỷ XX. - Hƣớng CQ ứng dụng ở Ucraina có các công trình: Marinhich nghiên cứu phân vùng CQ Ucraina, đãlàm rõ đặc điểm, quy luật phát sinh, phát triển, đặc thù từng vùng, miền CQ cho phát triển KT-XH; khi tiếp tục thiết kế CQ lãnh thổ Ucraina, Sisenko đã chú trọng CQ đồng cỏ Nam Ucraina. Các ứng dụng trong tổ chức và quy hoạch lãnh thổ đều dựa trên bản đồ cảnh quan.
Hướng nghiên cứu định lượng trong CQ: Hƣớng nghiên cứu định lƣợng trong CQ cũng đƣợc quan tâm với các nghiên cứu của B. Pôlƣnôp, tiếp đó A. Pérelmen đã nghiên cứu về sự di động của các nguyên tố hoá học trong CQ và phân chia CQ; M.Glazôpxkaia đã tiến hành xây dựng những nguyên tắc phân loại địa hoá các CQ một cách cụ thể hơn và đƣa ra hệ thống phân loại các CQ địa phƣơng. Hƣớng nghiên cứu địa vật lý cảnh quan do A.Armand đề xuất; Ông đã sử dụng các phƣơng pháp vật lý hiện đại để nghiên cứu mối tác động qua lại giữa các thành phần cấu tạo nên CQ…[15,38].
(6) Đánh giá cảnh quan: Việc đánh giá đặc trƣng cảnh quan đã trở thành trọng tâm cho phát triển bền vững và quản lý đất đai.