CHƯƠNG 1 Trong chương này tác giả đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu, trong đó trình bày về tính cấp thiết của đề tài, tình hình nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn, cuối cùng là kết cấu của luận văn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Quản trị công ty (Corporate governance) Tổ chức xếp hạng tín nhiệm Fitch đã xác định động lực phổ biến nhất về sức mạnh của quản trị công ty chính là sở hữu. Cấu trúc sở hữu không minh bạch, mâu thuẫn nhau hoặc không ổn định có thể cản trở việc thiết lập hệ thống quản trị công ty hiệu quả, do chúng tạo ra những điểm yếu trong mối quan hệ giữa người đại diện (nhà quản lý ) và người chủ (cổ đông).
Sự khó khăn trong việc tạo lập một Hội đồng Quản trị độc lập là thách thức của quản trị công ty trong các công ty cổ phần. Tại một số quốc gia, Hội đồng Quản trị tồn tại bởi vì đó là yêu cầu pháp lý, nhưng trong thực tế có thể chỉ mang tính hình thức, trong đó các cổ đông không có được mối quan hệ với nhà quản lý. Quản trị công ty yếu kém có thể dẫn đến các giao dịch với các bên liên quan, thường tồn tại ở các công ty cổ phần có sở hữu gia đình, khi cổ đông lớn chuyển dịch các nguồn lực và lợi nhuận của công ty cho các công ty “sân sau”, dẫn đến thiệt hại cho các cổ đông thiểu số. Cơ chế thưởng cho nhà quản lý là một vấn đề quan trọng trong quản trị công ty cổ phần.
Các nhà quản lý nhận được các khoản thưởng dựa trên các hiệu quả ngắn hạn thường có xu hướng theo đuổi các chiến lược đầu tư rủi ro hơn, gia tăng đòn bẩy tài chính, vì điều này sẽ làm tăng giá cổ phiếu. Tuy nhiên, việc sở hữu cổ phần của nhà quản lý có thể gây ra hai hiệu ứng trái ngược giữa tỷ lệ sở hữu quản trị với giá trị công ty: Hiệu ứng hội tụ lợi ích (convergence of interest effect) cho rằng khi nhà quản lý đồng thời là cổ đông thì lợi ích sẽ giao thoa mạnh với nhau, và dẫn đến tương quan dương giữa giá trị công ty và sở hữu quản trị, còn hiệu ứng “ngăn chặn” (“entrenchment” effect) cho rằng với một tỷ lệ sở hữu cao, nhà quản lý không mất đi vị trí của mình, do đó không sợ bị trừng phạt khi dịch chuyển lợi ích cổ đông về cho cá nhân, từ đó làm giảm giá trị công ty. Mục đích chính của nhà quản lý là tối đa hóa giá trị tài sản cho cổ đông do đó các công ty có thể phải đối mặt với mâu thuẫn giữa lợi ích của cổ đông và lợi ích LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 của các nhà quản lý (Jensen và Meckling, 1976). Các nỗ lực giảm tỷ lệ đóng thuế TNDN của nhà quản lý mang lại giá trị cho cổ đông, cho nên các nhà quản lý có thể hành xử nhằm mục đích giảm tỷ lệ đóng thuế TNDN.
Theo Desai và Dharmapala (2006) các nhà quản lý có thể che giấu việc theo đuổi các hoạt động tư lợi thông qua mục tiêu giảm thuế. Có nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của Quản trị công ty đối với tỷ lệ đóng thuế TNDN (Chen và cộng sự, 2010, Minick và Noga, 2010, Armstrong và cộng sự, 2012, Wahab và Holland, 2012, Badertscher và cộng sự, 2013, Vieira, 2013). Vấn đề đại diện (agency problem) Lý thuyết đại diện có nguồn gốc từ lý thuyết kinh tế. Vào đầu những năm 1970, các nhà kinh tế đã nghiên cứu về việc phân chia rủi ro giữa người ủy quyền và người đại diện.
Người ủy quyền là các cổ đông hay chủ sở hữu công ty, trong khi đó người đại diện là người được thuê bởi người ủy quyền và đại diện cho người ủy quyền quản lý, điều hành hoạt động của công ty. Đáng lẽ ra người ủy quyền và người đại diện đều phải hướng đến mục tiêu chung của toàn công ty, tuy nhiên xuất phát từ hành vi và thái độ đối với rủi ro khác nhau nên họ có mục tiêu và sự phân công lao động cũng khác nhau. Người đại diện có thể không vì lợi ích cao nhất của người ủy quyền khi họ có lợi thế về thông tin hơn người ủy quyền và có những lợi ích khác với lợi ích của người ủy quyền. Ðiều đó sẽ dẫn đến những hành vi cơ hội của người đại.
Ðể hạn chế rủi ro này, người ủy quyền sẽ sử dụng hệ thống thông tin quy chế chi tiêu, thủ tục báo cáo, các cấp bậc quản trị; hoặc là người ủy quyền giao phó công việc cho người đại diện và kiểm soát việc thực hiện cũng như kết quả công việc đó thông qua một hợp đồng. Tuy nhiên hành vi cơ hội của người đại diện vẫn sẽ xảy ra gọi là rủi ro đạo đức. Giảm sự xung đột về lợi ích của nhà quản trị và cổ đông sẽ làm cho nhà quản trị hành xử và đưa ra các quyết định quản trị tốt hơn từ đó tối đa lợi ích cho cổ đông và giảm chi phí đại diện. Các yếu tố tác động đến tỷ lệ đóng thuế TNDN 2.
Các yếu tố tài chính của công ty LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Quy mô công ty (SIZE) Theo lý thuyết chi phí của Zimmerman (1983) các công ty có quy mô lớn có tỷ lệ đóng thuế TNDN cao hơn. Thuế thu nhập công ty là chi phí mà công ty phải trả để tài trợ cho Chính phủ sử dụng vào các mục đích hỗ trợ kinh tế - xã hội. Tỷ lệ đóng thuế TNDN cao cho thấy sự thành công của các công ty. Các công ty lớn sẽ thành công hơn so với các công ty nhỏ vì thế phải chịu tỷ lệ đóng thuế TNDN cao hơn.
Hơn nữa, các công ty lớn sẽ phải chịu sự kiểm tra kỹ lưỡng của cơ quan thuế, do đó, các công ty lớn sẽ có gánh nặng thuế cao hơn so với các công ty có quy mô nhỏ hơn. Các nghiên cứu cho thấy quy mô công ty có tác động cùng chiều với tỷ lệ đóng thuế TNDN như nghiên cứu của Rego (2003), Vieira (2013), Kraft (2014). Theo lý thuyết cạnh tranh của Siegfried (1972), cho rằng các công ty có quy mô lớn thì có nhiều nguồn lực để quản lý và xây dựng kế hoạch thuế, vì thế làm giảm tỷ lệ đóng thuế TNDN. Tương tự, Dyreng et al.
(2008) và Richardson và Lanis, (2007) tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa quy mô công ty và tỷ lệ đóng thuế TNDN. Ngoài ra, Gupta và Newberry (1997) nghiên cứu mối quan hệ giữa quy mô công ty và tỷ lệ đóng thuế TNDN và đưa ra Luật về Cải cách Thuế năm 1986 cho thấy quy mô công ty và tỷ lệ đóng thuế TNDN của các công ty không liên quan khi quan sát mối quan hệ này theo thời gian. Holland (1998) phân tích các công ty Anh cũng thấy mối quan hệ lẫn nhau giữa quy mô công ty và tỷ lệ đóng thuế TNDN tùy theo ngành nghề kinh doanh của các công ty. Đòn bẩy tài chính (LEV) Việc phân tích cấu trúc vốn là cơ sở để nghiên cứu các yếu tố nào có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ đóng thuế TNDN của công ty.
Công ty có thể huy động nguồn vốn từ nợ hoặc vốn chủ sở hữu. Nếu một công ty quyết định huy động vốn chủ sở hữu, đây là giải pháp thay thế cho việc sử dụng nợ với chi phí rẻ hơn nhưng sẽ làm pha loãng quyền kiểm soát công ty. Hơn nữa, việc sử dụng vốn chủ sở hữu công ty sẽ không tận dụng được lá chắn thuế từ chi phí lãi vay, dẫn đến công ty thích vay nợ thay vì sử dụng vốn chủ sở hữu. Theo Kraft (2014), các quyết định về tài chính của các công ty có ảnh hưởng đến lợi ích của cổ đông và lợi ích của các nhà quản lý.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Nếu nhà quản lý sử dụng đòn bẩy tài chính cao, công ty sẽ phụ thuộc vào chủ nợ và bị hạn chế bởi những điều khoản của chủ nợ, điều này làm giảm sự chủ động để đưa ra các quyết định đầu tư hiệu quả để tối đa hóa giá trị tài sản cho cổ đông, thay vào đó là mục đích khai thác các lợi ích cá nhân. Richardson và Lanis (2007) và Kraft (2014) tìm thấy một mối quan hệ ngược chiều giữa đòn bẩy tài chính và tỷ lệ đóng thuế TNDN của công ty. Do công ty tận dụng được lá chắn thuế từ việc vay nợ. Quy mô vốn chủ sở hữu (CAP) Cùng với quyết định nguồn vốn thì quyết định đầu tư cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tỷ lệ đóng thuế TNDN của công ty.
Như đã chỉ ra bởi Hanlon et al. (2010), thuế suất ảnh hưởng đến việc tính toán giá trị hiện tại của một khoản đầu tư của công ty và gián tiếp ảnh hưởng đến tỷ lệ đóng thuế TNDN của công ty. Cũng như lá chắn thuế từ chi phí lãi vay, khấu hao được xem như là lá chắn thuế phi nợ và giúp công ty tiết kiệm thuế. Hơn nữa, các công ty hưởng lợi nhiều hơn từ khấu hao khi tuổi thọ của tài sản dài hơn thời gian khấu hao (Richardson và Lanis, 2007).
Các công ty có nhiều vốn hơn có thể dễ dàng quản lý thuế bằng cách lựa chọn phương pháp khấu hao nhanh hay chậm. Gupta và Newberry (1997) cho thấy vốn chủ sở hữu và chi phí R & D có mối quan hệ ngược chiều đến ETR. Hàng tồn kho (INV) Tương tự, hàng tồn kho có mối quan hệ ngược chiều với tỷ lệ đóng thuế TNDN là do tác động thay thế giữa đầu tư hàng tồn kho và đầu tư vốn (Richardson và Lanis, 2007 và Gupta và Newberry , 1997). Hàng tồn kho cao sẽ làm tăng các chi phí liên qua đến tồn kho như: chi phí về vốn, chi phí kho, thuế và bảo hiểm, chi phí hao hụt, hư hỏng điều này sẽ làm giảm lợi nhuận của công ty và gián tiếp làm giảm tỷ lệ đóng thuế TNDN.
Derashid và Zhang (2003) cũng cho thấy có mối quan hệ ngược chiều giữa tồn kho và tỷ lệ đóng thuế TNDN. Tuy nhiên, nghiên cứu của Rodríguez và Arias (2014) về các yếu tố quyết định đến tỷ lệ đóng thuế TNDN ở các quốc gia BRIC cho thấy mối liên kết tích cực giữa hàng tồn kho và tỷ lệ đóng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 thuế TNDN.