CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VÈ TÍNH THANH KHOẢN VÀ CÁC NHÂN TÓ ẢNH HƯỚNG ĐÉN TÍNH THANH KHOẢN CỦA DOANH NGHIỆP 1. LÝ LUẬN CHUNG VÈ TÍNH THANH KHOẢN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về tính thanh khoản Tính thanh khoản, một khái niệm trong tài chính, chỉ mức độ mà một tài sản bất kỳ có thê được mua hoặc bán trên thị trường mà không làm ảnh hưởng đến giá trị thị trường của tài sản đó. Ví dụ, chứng khoán hay các khoản nợ, khoản phải thu.
có khả năng chuyền đồi thành tiền mặt đễ dàng, thuận tiện cho. việc thanh toán hay chỉ tiêu. Các cách gọi khác của tính thanh khoản là: sinh lỏng, tính lưu động. Một tài sản gọi là thanh khoán khi mà thị trường của tài sản đó có nhiều người mua và người bán.
Một tài sản có tính thanh khoản cao thường được đặc trưng bởi số lượng giao dịch lớn. Tài sản có tính thanh khoản càng cao thì mức độ rủi ro càng thấp. Trong kế toán, tài sản lưu động được chia thành nhiều loại khác nhau và được xếp theo tính thanh khoản từ cao đến thấp. Trong đó, tiền có tính thanh khoản cao nhất, luôn luôn dùng được đề thanh toán trực tiếp, lưu thông, tích trữ.
Còn hàng tồn kho có tính thanh khoản thấp so với các tài sản lưu động khác. vì phải trải qua giai đoạn phân phối và tiêu thụ chuyền thành khoản phải thu, rồi từ khoản phải thu sau một thời gian mới chuyển thành tiền mat Chứng khoán có tính thanh khoản là những chứng khoán có sẵn thị trường cho việc bán lại đễ dàng, giá cả tương đối ôn định theo thời gian và khả 11 năng cao để phục hồi nguồn vốn đã đầu tư nguyên thủy của ngân hàng. Khi lựa chọn chứng khoán để đầu tư, ngân hàng dứt khoát phải xem xét đến khả năng. bán lại trước khi chúng đáo hạn để tái tạo nguồn vốn đầu tư ban đầu.
Nếu khả năng tái tạo kém, nghĩa là khó tìm được người mua hoặc phải bán mắt giá, ngân hàng sẽ gánh chịu những tôn thất tài chính lớn. Và điều này gọi là rủi ro thanh khoản trong đầu tư chứng khoán. Nhờ có thị trường chứng khoán các nhà đầu tư có thể chuyên đổi chứng, khoán họ sở hữu thành tiền mặt khi họ muốn và khả năng thanh khoản chính là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán với các nhà đầu tư. Tính lỏng cho thấy sự linh hoạt và an toàn của vốn đầu tư, thị trường hoạt động càng.
năng động và hiệu quả thì tính lỏng của chứng khoán giao dịch càng cao. Có mối quan hệ chặt chẽ giữa chỉ số P/E và tính lỏng chứng khoán. Chỉ số P/E cho. thấy giá cô phiếu hiện tại cao hơn thu nhập từ cổ phiếu đó bao nhiêu lần, hay nhà đầu tư phải trả giá cho một đồng thu nhập là bao nhiêu.
Nếu P/E cao có nghĩa là nhà đầu tư dự kiến tốc độ tăng cỗ tức cao trong tương lai của cô phiếu. Nhìn vào bảng thống kê tính thanh khoản của cỗ phiếu, nhà đầu tư dễ dàng. nhận ra những cổ phiếu giao địch sôi động nhất cũng là những cô phiếu có P/E cao hơn mức trung bình của thị trường. Đây là những chứng khoán có tốc độ tăng giá cao và mang lại giá trị thặng dư cao cho cổ đông thông qua việc chỉ tách cổ phiếu hay phát hành cỗ phiếu mới.
Nhìn chung, các công ty đầu tư vào tài sản lưu động, hay nói cách khác là các tài sản có tính thanh khoản cao. Tài sản lưu động tạo thành một bộ phận đáng kể trong tổng tài sản và có ý nghĩa quan trọng hơn đối với các rủi ro và hiệu quả của công ty. Ví dụ, theo Kim, David và Ann (1998) [35], tỷ lệ trung bình của tiền mặt cộng với chứng khoán thị trường trên tổng tài sản trong giai đoạn năm 1975 - 1994 của 915 công ty ngành công nhiệp ở Mỹ là 8,1%. Kim 12 và các cộng sự đã phân tích các chỉ phí và lợi ích của việc nắm giữ các loại tài sản lưu động và kết luận rằng việc đầu tư vào tài sản lưu động (chẳng hạn như đầu tư vào chứng khoán) là tốn kém hơn, vì đầu tư vào tài sản lưu động nghĩa là các công ty chấp nhận chỉ phí cơ hội cho việc đầu tư vào tài sản dài hạn; hơn nữa, các công ty cũng phải chịu chỉ phí giao dịch cho việc kinh doanh chứng khoán tài chính.
Tuy nhiên các công ty này nắm giữ một lượng đáng kẻ tài sản lưu động và được dự đoán là dư thừa quá mức bởi vì sự không hoàn hảo của thị trường vốn dẫn đến việc phải duy trì một lượng tài sản lưu động dư thừa đề giải quyết một số trường hợp khân cấp (Kim, David và Ann, 1998) [35] Cụ thể, khi và chỉ khi các nguồn tài chính bên ngoài là tốn kém thì việc đầu tư vào tài sản lưu động là câu trả lời thuận lợi nhất để tài trợ cho nhu cầu sản xuất trong tương lai hoặc cơ hội đầu tư. Các chỉ phí tài chính bên ngoài bao. gồm các chỉ phí trực tiếp phát hành chứng khoán, các chỉ phí phát sinh từ mâu. thuẫn nội bộ tiềm ẩn, chỉ phí phát sinh từ những vấn đề lựa chọn bắt lợi do thông tin bắt đối xứng (Smith, 1986) [45].
Myers và Majluf (1984) [40] cũng cho rằng vì thông tin tài chính hạn chế do bất đối xứng thông tin gây ra, các công ty nên tăng dự trữ vào tài sản lưu động để tài trợ cho các cơ hội đầu tư trong tương lai với các quỹ nội bộ. Do đó, đầu tư vào thanh khoản dư thừa có thé được xem như là một chỉ phí có hiệu quả và hợp lý để giảm sự phụ thuộc của công ty vào chỉ phí tài chính bên ngoài tốn kém. Theo Horne va David (1968) [30], thanh khoản có thể được diễn tả như. khả năng nhận ra giá trị của phương tiện được chấp nhận trong sự trao đôi.
Là phương tiện được chấp nhận đề trao đồi, tiền là tài sản thanh khoản cao nhất và cũng là một chuân mực cho việc kiểm soát giá trị của các loại tài sản khác được so sánh như mức độ thay thế của nó. Ngoài ra, theo Horne và David có hai thước đo về mức độ thanh khoản: một là, thời gian cần thiết để chuyền đổi tai 13 sản thành tiền; hai là, sự chắc chắn của giá thực hiện, tức là, sự ôn định của tỷ lệ trao đổi giữa tiền và tài sản. Trong thế giới kinh doanh, tồn tại nhu cầu cao về tính thanh khoản của công ty, và trên thực tế các doanh nghiệp thuộc ngành tài chính và công nghiệp quản lý các nhu cầu thanh khoản theo nhiều cách để thực hiện các kế hoạch sản xuất và đầu tư trong tương lai một cách hiệu quả mà không bị đình trệ bởi sự thiếu hụt thanh khoản nhất thời. Nhà đầu tư có thể hiểu được khả năng thanh khoản bằng cách phân tích các báo cáo tài chính của một công ty.
Các chỉ tiêu tài chính sau được yêu cầu phải xác định được để có thể đánh giá khả năng thanh khoản của một công ty: + Tài sản ngắn han; + Nợ ngắn hạn. Một công ty có thể đầu tư tài chính của mình bằng cách kết hợp các nguồn hạn hiện tại và lâu dài khác nhau. Nói cách khác, một công ty có thê đầu tư tiền, được huy động thông qua nguồn ngắn hạn hoặc dài hạn, trong các tài sản ngắn hạn hoặc tài sản đài hạn. Một số các chiến lược kinh doanh có liên quan như sau: + Tài trợ tài sản ngắn hạn bằng các nguồn ngắn hạn.
+ Tài trợ tài sản ngắn hạn bằng các nguồn dài hạn. + Tài trợ tài sản dài hạn bằng các nguồn ngắn hạn. + Tài trợ tài sản dài hạn bằng các nguồn dài hạn. Nha đầu tư có thể nhận ra các chính sách trên bằng cách xem xét các chỉ tiêu trên bảng cân đối hoặc xác định vốn lưu động của công ty.
Ngoài ra, thông qua việc xác định vốn lưu động ròng nhà đầu tư có thể tìm hiểu khả năng thanh toán của công ty, cũng như cho thấy các quyết định tài chính và đầu tư của công ty. 14 Vốn lưu động ròng là phần dư của tài sản ngắn hạn so với nợ ngắn han (Tài sản ngắn hạn — Nợ ngắn hạn). Vốn lưu động ròng của một công ty có thể xây ra với một trong những trường hợp sau: 'Vốn lưu động ròng > 0: Tài sản ngắn hạn lớn hơn Nợ ngắn hạn; 'Vốn lưu động ròng < 0: Nợ ngắn hạn lớn hơn Tài sản ngắn hạn; Vốn lưu động ròng = 0: Tài sản ngắn hạn bằng Nợ ngắn hạn. Thông thường, thanh khoản của một công ty được đánh giá là tốt khi có vốn lưu động ròng dương.
Điều này là hợp lý, vì khi vốn lưu động ròng dương. thì có thể đễ dàng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn bằng các tài sản ngắn hạn hiện có của công ty. Xem xét mối quan hệ giữa vốn lưu động với các thành phần khác trên bảng cân đối kế toán: Nguồn vốn = Tài sản; hoặc Vốn chủ sở hữu + Vay và nợ dài hạn + Nợ ngắn hạn = Tài sản ngắn han + Tài sản dài hạn; hoặc Nguồn vốn thường xuyên + Nợ ngắn hạn = Tài sản ngắn hạn + Tài sản dài hạn; hoặc Nguồn vốn thường xuyên — Tai san dai han = Tai sản ngắn han — No ngắn hạn; hoặc Nguồn vốn thường xuyên — Tài sản dài hạn = Vốn lưu động ròng. Như vậy, quản lý vốn lưu động không chỉ thông qua quản lý tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn, mà còn có thể thông qua quản lý các nguồn vốn thường.
xuyên (nguồn vốn dài hạn) và tài sản dài hạn. Nói cách khác, tính thanh khoản của một công ty có thể được quản lý bằng cách quản lý tài sản ngắn hạn, nợ ngắn hạn, tài sản đài hạn và nguồn vốn dài hạn 15 1. Lý thuyết ưa chuộng tính thanh khoản Lý thuyết ưa chuộng tính thanh khoản là một trong những lý luận liên quan đến nhu cầu tiền tệ lần đầu tiên được nêu ra bởi John Maynard Keynes trong tác phẩm nỗi tiếng của mình là “The General Theory of Employment, Interest and Money” (Lý thuyết tổng quát về Việc làm, Lãi suất và Tiền tệ) [34] và trở thành một trong những lý luận quan trọng của kinh tế học Keynes. Tác phẩm đã diễn đạt toàn diện nhất tư tưởng kinh tế của Keynes, được giới kinh tế học phương Tây đánh giá như một cuộc cách mạng trong kinh tế học bởi sự mới mẻ trong tư tưởng kinh tế của ông.