chương 1.) Đồng quan điểm với Zibin Song (2015), Xiangping Li (2016) đã mở rộng mô hình nghiên cứu các tác động đến sự hỗ trợ lễ hội của người dân địa phương bằng việc tích hợp ba lý thuyết: trao đổi xã hội, tình cảm đoàn kết (theory of emotional solidarity) và sự gan bó với cộng đồng (community attachment theory) vào trong nghiên cứu của mình. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có 4 yếu tô ảnh hưởng đến sự hỗ trợ DLLH của người dân địa phương, đó là: tình cảm đoàn kết 21 giữa các thành viên trong một cồng đồng, sự gắn bó với cộng đồng, nhận thức về tác động tích cực và tiêu cực của DLLH. Những nghiên cứu ké trên hầu hết sử dụng lý thuyết trao đổi xã hội làm lý thuyết cơ sở dé nhận định các yếu tố ảnh hưởng đến sự hỗ trợ DLLH của người dân địa phương. Bên cạnh đó, một số nghiên cứu cũng đã phát triển mô hình nghiên cứu băng cách tích hợp thêm những lý thuyết khác có liên quan đến tình cảm, cảm xúc của mỗi cá nhân như lý thuyết ASTE, lý thuyết gắn bó cộng đồng hay lý thuyết tình cảm đoàn kết.
Ngoài ra, cũng có một số nghiên cứu tiếp cận sự hỗ trợ DLLH của người dân địa phương dựa trên những đánh giá của họ về lợi ích, phúc lợi xã hội mà hoạt động này mang lại. Kai-Chik chang và Tsuifang Hsueh (2017) cho rằng lợi ích mà DLLH mang lại bao gồm lợi ích về trải nghiệm giải trí và lợi ích phát triển địa phương. Mô hình nghiên cứu của các tác giả đã giả định 2 yếu tố lợi ich vừa nêu và bản sắc lễ hội có ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định hỗ trợ DLLH của cộng đồng cư dân. Kết quả nghiên cứu chỉ ra cả 3 giả thuyết được kiểm định đều là chân xác.
Tuy nhiên, nhận thức của người dân về lợi ich phát triển địa phương do DLLH mang lại có tác động tích cực lớn hơn đến việc họ quyết định hỗ trợ loại hình du lịch này, khi so sánh với lợi ích trải nghiệm giải trí họ có được khi tham dự lễ hội. Khi xây dựng mô hình người dân địa phương hỗ trợ phát triển du lịch tại lễ hội WOMAD (Tây Ban Nha), Carlo Alessandro (2020) đã nhận định rằng nhận thức chủ quan của người dân về phúc lợi xã hội có được từ hoạt động DLLH sẽ có ảnh hưởng trực tiếp tích cực đến việc họ có hỗ trợ hoạt động DLLH hay không. Tại Việt Nam, trong một vài thập niên trở lại đây, nhiều học giả đã đặt mối qua tâm đến việc nghiên cứu về DLLH, nhiều công trình khoa học về dé tai này đã được công bó rộng rãi. Có thé kế đến như luận văn thạc sĩ Phát triển loại hình 22 DLLH trên địa bàn Thành phố Hà Nội, tác giả Lương Như Huế (2014); Nghiên cứu phát triên DLLH tại Hué, tác giả Đặng Hùng Sơn (2015); Nghiên cứu lễ hội truyền thống nhằm phát triển du lịch tại An Giang, Hồ Thị Đào (2015); Nghiên cứu phát trién DLLH truyền thống tại Khánh Hòa, Trương Thị Xuân Nhi (2020).
Những nghiên cứu này chủ yếu mang tính chất định tính, các tác giả trình bày thực trạng của hoạt động DLLH tại địa phương đồng thời nêu ra các vấn đề còn tồn đọng. Kết hợp với nghiên cứu, tìm hiểu về hoạt động DLLH tại các quốc gia khác từ đó đưa ra các đề xuất, kiến nghị dé nang cao chat lượng của loại hình du lich này tại địa phương nhằm thu hút du khách, nâng cao hiệu quả về kinh tế. Các nghiên cứu về lễ hội Kiếp Bạc- Hải Dương có thé kế đến Luận án Tiến sĩ Quản lý lễ hội truyền thống gan với phát triển sản phẩm du lịch qua khảo sát lễ hội Kiếp Bạc (Hải Dương) và lễ hội Tịch Điền (Hà Nam) tác giả Trịnh Lê Anh (2018). Tác giả đã nghiên cứu việc phát triển DLLH tại lễ hội Kiếp Bạc (Hải Dương) và những lễ hội tương đồng thông qua việc xác định mô hình quản lý lễ hội truyền thống gắn với phát triển sản phẩm du lịch.
Các nghiên cứu nêu trên đã khắng định một điều răng DLLH không còn là dé tài quá mới mẻ ở nước ta. Tuy nhiên, số lượng các nghiên cứu về sự hỗ trợ của người dân địa phương đối với loại hình du lịch này còn khá hiếm hoi. Mặc dù, như đã nêu trên cộng đồng dân cư địa phương luôn được coi là một trong những bên liên quan có vai trò quan trọng trong việc quyết định sự thành công, phát triển bền vững của hoạt động DLLH tại một điểm đến. Từ tổng quan các công trình nghiên cứu trước đây, tác giả nhận thấy có những khoảng trống trong lý thuyết cần bé sung thêm nhăm làm sâu sắc hơn hiểu biết về sự hỗ trợ DLLH của người dân địa phương, cụ thê như sau: 23 Thứ nhất: Mặc dù trên thé giới đã có nhiều nghiên cứu về sự hỗ của người dân địa phương đối với du lịch nói chung và DLLH nói riêng, tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu này được thực hiện trong bối cảnh nghiên cứu tại các nước có nền văn hóa Phương Tây nơi có sự khác biệt lớn về văn hóa - xã hội so với Việt Nam hoặc ở khu vực Đông Á cụ thể là Trung Quốc quốc gia nơi mà văn hóa- xã hội nước ta chịu nhiều ảnh hưởng tuy nhiên nó chỉ mang tính chất giao thoa mà không bị đồng hóa, văn hoá Việt gắn bó với văn hoá Đông Nam Á vẫn được bảo tồn và phát triển.
Chua có nhiều nghiên cứu về chủ đề ảnh hưởng các yếu tố tới sự hỗ trợ DLLH của người dân địa phương ở khu vực Đông Nam A, và đặc biệt rất hiếm có nghiên cứu về chủ đề này ở bối cảnh lễ hội ở Việt Nam. Thứ hai: Các nghiên cứu trong nước gần đây về DLLH chủ yếu tập trung vào khách thê là các nhà quản lý DLLH, khách DLLH hoặc các nghiên cứu từ góc độ quản lý văn hóa. Như đã được đề cập đến trong phần giới thiệu về tầm quan trọng của sự hỗ trợ của người dân địa phương trong hoạt động phát triển DLLH, những nghiên cứu kiêm định các yếu tố ảnh hưởng đến sự hỗ trợ DLLH của người dân địa phương dựa trên các mô hình lý thuyết trước đó đặt trong bối cảnh ở Việt Nam là yêu cầu từ thực tiễn dé khỏa lap các khoảng trống hiểu biết về van dé này. Bên cạnh đó, việc khám phá các yếu tố mới cũng là cần thiết.
Với những khoảng trống nêu trên, nghiên cứu về các yếu tố và sự tác động của những yếu tố tới sự hỗ trợ DLLH của người dân địa phương sẽ phần nào lấp day và lam sâu sắc hơn hiểu biết về thái độ, hành vi của cộng đồng cư dân đối với hoạt động phát triển du lịch tại địa phương. Lễ hội Lễ hội là một từ ghép dang lập gồm hai từ “lễ” và “hội”. Hai từ này đều là từ Hán Việt nhưng “lễ hội” lại là một cấu trúc ghép theo cú pháp tiếng Việt. “Lễ hội” được kết hợp từ hai yếu tố, trong đó “lễ” là những qui tắc ứng xử, cách thức cúng tế, nghi thức tôn giáo; “hội” là cuộc vui, đám vui đông người.
Trong từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (1998, tái bản 2007) lễ hội được định nghĩa “là cuộc vui chung có tổ chức, có các hoạt động lễ nghỉ mang tính văn hóa truyền thống”. Trong tiếng Anh lễ hội là festival, bắt nguồn từ một từ Latinh festum có nghĩa là “sự vui chơi, vui mừng, hân hoan của công chúng”, được sử dụng chủ yếu ở dạng số nhiều dé thê hiện quan điểm từ thời cô xưa lễ hội chính là sự tập hợp của các hoạt động và nghỉ lễ kỷ niệm. Ngoài ra trong tiếng Anh, feast là một bữa ăn thịnh soạn và vui vẻ. Theo cách sử dụng hiện nay, festival có thể hiểu là một hoặc một nhóm các hoạt động có tính thiêng liêng hoặc thế tục, các diễn xướng trong nghệ thuật, hay là cuộc liên hoan, hội họp vui vẻ.
Cho đến hiện nay, khái niệm “lễ hội” đã được nhiều học gia quan tâm, tim hiểu và đưa ra những định nghĩa khác nhau trong giới học thuật. Nhà nghiên cứu Pieper (1965) cho rằng lễ hội là các nghi lễ tôn giáo và lễ kỷ niệm, học giả Getz (2005) đã làm sáng tỏ hơn về lễ kỷ niệm, theo đó lễ kỷ niệm được coi là một lễ hội khi có nội dung, chủ đề và thuộc về một cộng đồng dân cư cụ thê trong xã hội Tác giả Alessandro Falassi đã nhận định: “Lễ hội là một hoạt động kỷ niệm định kỳ biểu thị thé giới quan của một nên văn hoá hay nhóm xã hội thông qua hành lễ, diễn xướng, nghỉ lễ và trò chơi truyền thống. Là một hoạt động hết sức 25 phổ biến, lễ hội có thể là sự kiện có tính tượng trưng và tính xã hội phức tạp nhất, tôn tại lâu đời trong truyền thống”. Tại Việt Nam, thông qua hoạt động nghiên cứu, các học giả cũng đã đưa ra nhiều định nghĩa về lễ hội.
Theo quan điểm của tác giả Dương Văn Sáu: “Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa công đồng diễn ra trên một địa bàn dân cư trong thời gian và không gian xác định; nhằm nhắc lại một sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyén thoại; đồng thời là dip để biểu hiện cách ứng xử văn hóa của con người với thiên nhiên - thân thánh và con người trong xã hội”. Tác giả Nguyễn Minh Tuệ thì cho rằng: “Lễ hội là một loại sinh hoạt văn hóa tổng hợp hết sức đa dạng và phong phú, là một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc hoặc là một địp để con người hướng về một sự kiện lịch sw trọng đại: ngưỡng mộ tổ tiên, ôn lại truyền thống hoặc là để giải quyết những nổi âu lo, những khao khát, ước mơ mà cuộc sống thực tại chưa giải quyết được”. Đồng tình với các nhận định trên, tác giả Nguyễn Chí Bền đưa ra khái niệm: “Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đông, ra đời và phát triển trong xã hội loài người. Ở Việt Nam, lễ hội gan bó với làng xã như một thành to không thể thiếu vắng trong doi sống cộng dong.
Là những cư dân nông nghiệp sống với nghề trong lúa nước, vòng quay của thiên nhiên và mùa vụ tao ra trong con người những nhu cau tâm linh mà lễ hội chính là nơi, là cơ hội thỏa mãn nhu cẩu tâm linh ay cua ho.