CHƯƠNG 1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP LÂM NGHIỆP 1. Một số lý luận cơ bản về hiệu quả kinh doanh và doanh nghiệp lâm nghiệp 1. Khái niệm và bản chất của hiệu quả kinh doanh 1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh Trong cơ chế thị trường như hiện nay, mọi doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh đều có một mục tiêu chung là tối đa hóa lợi nhuận.
Lợi nhuận là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Để đạt được mức lợi nhuận cao, các doanh nghiệp cần phải hợp lý hóa quá trình sản xuất kinh doanh, từ khâu mua vào đến khâu tiêu thụ. Mức độ hợp lý hóa của quá trình được phản ánh qua một phạm trù kinh tế cơ bản được gọi là: Hiệu quả kinh doanh. Muốn kiểm tra tính hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh phải đánh giá được hiệu quả kinh doanh ở phạm vi doanh nghiệp cũng như từng bộ phận của nó.
Theo tác giả David Begg (1992), hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, máy móc thiết bị, vốn và các yếu tố khác) của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh mà doanh nghiệp đề ra. Nhóm tác giả Nguyễn Thành Độ và Nguyễn Ngọc Huyền (2009) cho rằng hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu kinh doanh xác định. Chỉ các doanh nghiệp kinh doanh mới nhằm vào mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và vì thế mới cần đánh giá hiệu quả kinh doanh. Trong khi đó, tác giả Bùi Thị Minh Nguyệt (2018) nhận định, hiệu quả kinh doanh là một phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu xác định, phản ánh mặt chất lượng của quá trình kinh doanh.
Hiệu quả kinh doanh là sự tương quan so sánh giữa kết quả đạt được theo mục tiêu đã được xác định với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó trong quá trình sản xuất kinh doanh Nguyễn Văn Công (2013). Như vậy, về mặt bản chất thì hiệu quả kinh doanh chính là hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp gắn chặt với hiệu quả kinh tế của toàn xã hội, vì thế nó cần được xem xét toàn diện cả về mặt định tính lẫn định lượng, không gian và thời gian. Về mặt định tính, mức độ hiệu quả kinh doanh phản ánh những nỗ lực và trình độ quản lý của doanh nghiệp, đồng thời gắn với việc đáp 9 ứng các mục tiêu và yêu cầu của doanh nghiệp và của toàn xã hội về kinh tế, chính trị và xã hội.
Về mặt định lượng, hiệu quả kinh doanh là biểu thị tương quan giữa kết quả mà doanh nghiệp thu được với chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để thu được kết quả đó. Hiệu quả kinh doanh chỉ có được khi kết quả cao hơn chi phí bỏ ra. Mức chênh lệch này càng lớn thì hiệu quả kinh doanh càng cao và ngược lại. Phân loại hiệu quả kinh doanh Trong công tác quản lý, phạm trù hiệu quả kinh doanh được biểu hiện dưới các dạng khác nhau.
Việc phân chia hiệu quả kinh doanh theo các tiêu chí khác nhau có tác dụng thiết thực cho công tác quản lý kinh doanh. Nó là cơ sở để xác định các chỉ tiêu và định mức hiệu quả kinh doanh để từ đó có các biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Tùy theo cách tiếp cận có thể nghiên cứu hiệu quả kinh doanh theo các cách phân loại khác nhau. Hiệu quả có thể được đánh giá ở các góc độ, đối tượng, phạm vi khác nhau.
- Xét trong phạm vi và đối tượng các hoạt động kinh tế, có thể phân chia phạm trù hiệu quả kinh doanh thành: + Hiệu quả kinh tế quốc dân: là hiệu quả kinh tế tính chung toàn bộ nền sản xuất xã hội. + Hiệu quả kinh tế theo ngành: là hiệu quả kinh tế tính riêng cho từng ngành sản xuất vật chất như công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ. trong từng ngành lớn có lúc phải phân bổ hiệu quả kinh tế cho những ngành hẹp hơn. + Hiệu quả kinh tế doanh nghiệp: là xem xét cho từng doanh nghiệp, vì doanh nghiệp hoạt động theo từng mục đích riêng rẽ và lấy lợi nhuận làm mục tiêu cao nhất, nên nhiều hiệu quả của doanh nghiệp không đồng nhất với hiệu quả của quốc gia.
Cũng vì thế mà nhà nước sẽ có các chính sách liên kết vĩ mô với doanh nghiệp. - Căn cứ vào phạm vi tính toán hiệu quả, người ta phân ra làm 2 loại: Hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả kinh doanh bộ phận. + Hiệu quả kinh doanh tổng hợp: là phạm trù kinh tế biểu hiện của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh tổng hợp là thước đo hết sức quan trọng của sự tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cho việc đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp trong từng thời kỳ.
10 + Hiệu quả kinh doanh bộ phận: là sự thể hiện trình độ và khả năng sử dụng từng bộ phận trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nó là thước đo quan trọng của sự tăng trưởng từng bộ phận và cùng với hiệu quả kinh tế tổng hợp làm cơ sở để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp. Nó bao gồm các chỉ tiêu như hiệu quả sử dụng vốn cố định và tài sản cố định, hiệu quả sử dụng vốn lưu động và tài sản lưu động, hiệu quả sử dụng đất, hiệu quả sử dụng lao động… - Xét trên yếu tố tài chính có hiệu quả tài chính và hiệu quả phi tài chính. + Hiệu quả tài chính: phản ảnh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu kinh tế của tổ chức.
Các mục tiêu kinh tế thường được xác định như tốc độ tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận, hiệu quả sử dụng vốn, hiệu quả sử dụng tài sản… + Hiệu quả phi tài chính: phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất để đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội. Các mục tiêu kinh tế - xã hội thường là tốc độ tăng trưởng kinh tế; Mức sống của người lao động; Tổng thu nhập của người lao động; Tỷ lệ giải quyết công ăn việc làm; Xây dựng cơ sở hạ tầng; Nâng cao phúc lợi xã hội… Hoạt động của doanh nghiệp nào cũng gắn liền với môi trường và thị trường kinh doanh của nó. Doanh nghiệp nào cũng căn cứ vào thị trường để giải quyết các vấn đề then chốt: kinh doanh cái gi? Kinh doanh như thế nào? Kinh doanh cho ai? Suy cho cùng, chi phí bỏ ra là chi phí lao động xã hội nhưng đối với mỗi doanh nghiệpmà ta đánh giá hiệu quả kinh tế thì chi phí lao động xã hội đó được thể hiện dưới dạng các chi phí khác nhau như: chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí bán hàng, chi phí khác… Bản thân mỗi loại chi phí này lại có thể được phân chia tỉ mỉ hơn. Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả kinh tế không thể không đánh giá hiệu quả tổng hợp của các loại chi phí trên, đồng thời cần thiết phải đánh giá hiệu quả của từng loại chi phí đó.
Doanh nghiệp lâm nghiệp 1. Khái niệm doanh nghiệp lâm nghiệp Doanh nghiệp lâm nghiệp là một loại doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực lâm nghiệp với đặc trưng cơ bản nhất là lấy rừng và tài nguyên rừng làm tư liệu sản xuất chủ yếu. Theo quan niệm phổ biến hiện nay, lâm nghiệp là một lĩnh vực sản xuất đặc biệt, bao gồm các hoạt động xây dựng rừng, khai thác lợi dụng, chế biến các sản phẩm từ rừng và phát huy các chức năng phòng hộ, chức năng văn hoá xã hội của rừng. 11 Doanh nghiệp lâm nghiệp trước hết là một tổ chức thực hiện hoạt động kinh doanh chủ yếu trong lĩnh vực lâm nghiệp với các hoạt động xây dựng rừng, khai thác vận chuyển và chế biến các loại lâm sản, thực hiện các dịch vụ trong lĩnh vực lâm nghiệp, đáp ứng nhu cầu về lâm sản đối với toàn bộ nền kinh tế.
Bên cạnh việc thực hiện các hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp lâm nghiệp còn phải làm nhiệm vụ phát huy các chức năng phòng hộ của rừng đối với quốc gia, đồng thời phát huy tốt nhất các chức năng về văn hoá, xã hội của rừng đối với xã hội. Đặc điểm của doanh nghiệp lâm nghiệp Thứ nhất, chu kỳ sản xuất trong doanh nghiệp lâm nghiệp dài. Hoạt động cơ bản nhất của sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp lâm nghiệp là trồng rừng, khai thác và chế biến các loại nông lâm sản cung cấp cho các nhu cầu của nền kinh tế. Trong toàn bộ các hoạt động này, đối tượng lao động chủ yếu là cây, một thực thể sinh học có thời gian sinh trưởng phát triển rất dài.
Đối với các loại cây trong lâm nghiệp (mà đặc biệt là cây rừng), thời gian từ khi bắt đầu gieo trồng cho đến khi được khai thác có thể kéo dài nhiều năm, thông thường là hàng chục năm, cá biệt có thể tới hàng trăm năm. Chu kỳ sản xuất trong các doanh nghiệp lâm nghiệp rất dài, là đặc điểm rất quan trọng, có ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ công tác tổ chức sản xuất kinh doanh. Chu kỳ sản xuất dài làm cho vốn đầu tư trong các doanh nghiệp lâm nghiệp phải nằm rất lâu trong quá trình sản xuất dưới dạng sản phẩm dở dang, vì thế quay vòng chậm, rất lâu được thu hồi, dẫn đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp lâm nghiệp thường thấp, độ rủi ro trong kinh doanh thường cao. Đặc điểm này đòi hỏi bản thân các doanh nghiệp lâm nghiệp phải hết sức thận trọng trong khi xác định cơ cấu cây trồng, phải chủ động áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để rút ngắn chu kỳ sản xuất, mở rộng các hoạt động kinh doanh tổng hợp, lấy ngắn nuôi dài.để có thể tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường, bên cạnh đó Nhà nước cần có những chính sách ưu đãi về đầu tư cho các hoạt động kinh doanh lâm nghiệp.
Thứ hai, sản xuất lâm nghiệp rất đa dạng, phức tạp.