CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Nghiên cứu về mô hình đo lường hành vi quản trị lợi nhuận Mô hình Healy (1985) là mô hình đầu tiên đo lường hành vi quản trị lợi nhuận, mô hình chỉ so sánh chỉ số tổng dồn tích trên tài sản giữa các nhóm doanh nghiệp chứ không đo lường trực tiếp dồn tích. Mô hình DeAngelo (1986) tính chênh lệch giữa tổng dồn tích của hai kỳ trên tài sản để xác định dồn tích có điều chỉnh riêng biệt cho mỗi doanh nghiệp.
Mô hình Jones (1991) tính dồn tích không điều chỉnh là một hàm số thay đổi theo doanh thu và tài sản cố định hữu hình, tính tổng biến dồn tích bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế trừ đi dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, và dồn tích có điều chỉnh được xác định là phần còn lại của tổng dồn tích sau khi trừ đi dồn tích không điều chỉnh. Mô hình Friedlan (1994) là một biến thể của mô hình DeAngelo (1986), xác định dồn tích có điều chỉnh bằng cách tính chênh lệch giữa tổng dồn tích của hai kỳ trên tài sản được chuẩn hóa bởi doanh thu bán hàng. Mô hình của Dechow và các cộng sự (1995) (còn gọi là mô hình Modified Jones) cải tiến mô hình Jones (1991) bằng cách bổ sung thêm một yếu tố tạo ra dồn tích không điều chỉnh là nợ phải thu; theo đó Dechow và các cộng sự (1995) tiến hành so sánh các mô hình để đo lường hành vi quản trị lợi nhuận, kết quả cho thấy mô hình Modified Jones là tốt nhất để phát hiện quản trị lợi nhuận. Mô hình của Kothari và các cộng sự (2005) phát triển mô hình của Jones (1991) và mô hình Modified Jones (1995) với việc đưa thêm biến lợi nhuận trên tổng tài sản vào mô hình nhằm xem xét mối quan hệ giữa biến dồn tích và kết quả hoạt động của công ty; tuy nhiên, nghiên cứu của Keung and Shih (2014) cho thấy các sai số của mô hình của Kothari và các cộng sự (2005) sẽ có mối tương quan ngược chiều với biến kế toán dồn tích có thề điều chỉnh.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nghiên cứu về động cơ dẫn đến hành vi quản trị lợi nhuận Healy (1985) tìm thấy bằng chứng về hành vi sử dụng các khoản dồn tích để tối đa hóa các khoản thưởng. Watts and Zimmerman (1990) cho rằng các nhà quản lý có động lực để thúc đẩy báo cáo lợi nhuận từ tương lai đến kỳ kế toán hiện hành khi một kế hoạch giải thưởng tồn tại dựa trên lợi nhuận. Healy and Wahlen (1999) cho rằng có ba động cơ chính dẫn đến hành vi quản trị lợi nhuận, đó là kỳ vọng thị trường vốn, các hợp đồng bằng văn bản được ký kết trong đó có liên quan đến số liệu kế toán, và phản ứng lại các quy định của chính phủ.
Baralexis (2004) cho thấy các công ty nhỏ đang thực sự quan tâm nhiều hơn về tiết kiệm chi phí thuế trong cân nhắc quản trị lợi nhuận. Ball and Shivakumare (2005) xác định thuế là một trong những mục tiêu chính của báo cáo thường niên của các công ty tư nhân. Burgstahler and Eames (2006) nghiên cứu vai trò của kỳ vọng thị trường vốn và phát hiện ra rằng hành vi quản trị lợi nhuận càng tăng khi đáp ứng những kỳ vọng của các nhà phân tích và những dự báo trong quản lý. Bergstresser and Philippon (2006) nghiên cứu về hành vi quản trị lợi nhuận của nhà quản lý khi họ được quyền chọn mua cổ phiếu, kết quả cho thấy để gia tăng tài sản cá nhân, nhà quản trị luôn có xu hướng quản trị lợi nhuận theo hướng tăng lên.
Chevis và các cộng sự (2007) đã nghiên cứu về sự đồng thuận và đánh giá công ty từ thị trường vốn, kết quả cho thấy các công ty nếu đạt hoặc vượt kế hoạch sẽ được đánh giá cao hơn các công ty không đạt được kế hoạch. Noronha và các cộng sự (2008) cho thấy động cơ hợp đồng bồi thường quản lý và tiết kiệm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp là những động cơ cho hành vi quản trị lợi nhuận tại các công ty đại chúng của Trung Quốc. Nghiên cứu của Ahmad–Zaluki và các cộng sự (2011) cho thấy các công ty có hành vi quản trị lợi nhuận nhiều nhất vào những năm niêm yết, đặc biệt là các công ty niêm yết trong giai đoạn khủng hoảng. Omar Farooq and Meryem Benali (2012) cho thấy các công ty cổ phần có hành vi quản trị lợi nhuận trong suốt những năm niêm yết, tuy nhiên mức độ quản trị lợi nhuận của năm đầu niêm yết cao hơn những năm trước và sau niêm yết.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Như vậy, có thể nói các động cơ chủ yếu dẫn đến hành vi quản trị lợi nhuận bao gồm: kỳ vọng của thị trường vốn, lợi ích từ các hợp đồng dựa trên lợi nhuận kế toán, các quy định về pháp lý của chính phủ và các quy định của các đối tượng có liên quan. Nghiên cứu về kỹ thuật quản trị lợi nhuận DuCharme và các cộng sự (2000) cho rằng nhà quản trị có thể thông qua việc lựa chọn các phương pháp kế toán, sử dụng các ước tính kế toán và ghi nhận các khoản thu và chi phí để thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận. Verbruggen và các cộng sự (2008) cho rằng có 4 – bốn kỹ thuật quản trị lợi nhuận: quản trị lợi nhuận thông qua dồn tích các đối tượng cụ thể (một tình huống cụ thể, một chuẩn mực kế toán cụ thể hay một ngành công nghiệp cụ thể), quản trị lợi nhuận thông qua phân bổ chi phí hay doanh thu, quản trị lợi nhuận thông qua công bố thông tin, và quản trị lợi nhuận thông qua các hoạt động thực tế. Nghiên cứu về các nhân tố đặc điểm công ty ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận Becker và các cộng sự (1998) sử dụng mô hình Jones (1991) quan sát các công ty do Big6 (hiện nay là Big4) kiểm toán và không do Big6 kiểm toán, kết quả cho thấy các công ty không do Big 6 kiểm toán quản trị lợi nhuận cao hơn các công ty do Big 6 kiểm toán.
Nghiên cứu của Roodposhti & Chashmin (2011) về tác động của cơ chế quản trị công ty đến quản trị lợi nhuận với mẫu nghiên cứu gồm 196 công ty niêm yết trên Sàn chứng khoán Tehran trong giai đoạn 2004-2008. Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô công ty càng tăng thì hành vi quản trị lợi nhuận càng tăng. Nghiên cứu của Ahmad–Zaluki và các cộng sự (2011) về hành vi quản LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 trị lợi nhuận của các công ty niêm yết tại Malaysia với mẫu nghiên cứu gồm 250 công ty trong giai đoạn 1990-2000 và sử dụng mô hình Jones (1991) để nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận, cho thấy chất lượng công ty kiểm toán và thời gian hoạt động của công ty có tác động nghịch biến với hành vi quản trị lợi nhuận. Nghiên cứu của Soliman & Ragab (2013) sử dụng mô hình Jones (1991) đã quan sát 40 công ty niêm yết tại Sàn chứng khoán Ai Cập trong giai đoạn 2007-2010 để xem xét các ảnh hưởng đến quản trị lợi nhuận.
Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô công ty tác động thuận chiều đến hành vi quản trị lợi nhuận Dwi Lusi Tyasing Swastika (2013) nghiên cứu về mối quan hệ giữa quản trị công ty, quy mô doanh nghiệp và quản trị lợi nhuận, kết quả cho thấy các biến về hội đồng quản trị có mối quan hệ thuận chiều với hành vi quản trị lợi nhuận, các biến chất lượng công ty kiểm toán và quy mô công ty có mối quan hệ nghịch chiều với hành vi quản trị lợi nhuận. Samira Rahmani và các cộng sự (2013) nghiên cứu về tác động của quy mô doanh nghiệp và cấu trúc vốn đến quản trị lợi nhuận sử dụng mô hình Jones (1991) để đo lường hành vi quản trị lợi nhuận trên mẫu gồm 75 công ty niêm yết tại Iran trong giai đoạn 2006-2010. Kết quả cho thấy cấu trúc vốn (tỷ lệ đòn bẩy tài chính) có ảnh hưởng nghịch biến với hành vi quản trị lợi nhuận, nhưng nghiên cứu không tìm ra ảnh hưởng của biến quy mô công ty. Nghiên cứu về hậu quả của hành vi quản trị lợi nhuận Cohen và Zarowin (2008) đã tiến hành so sánh các doanh nghiệp có cùng quy mô, hoạt động trong cùng một ngành công nghiệp và làm sáng tỏ mức độ ảnh hưởng tiêu cực của quản trị lợi nhuận tới hoạt động đầu tư của doanh nghiệp.
Kết quả cho thấy vào thời kỳ tiến hành hành vi quản trị lợi nhuận, các công ty đầu tư vượt quá mức tối ưu, và sau thời kỳ này, các công ty LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 lại đầu tư thấp hơn mức tối ưu, dẫn đến số tiền đầu tư của các cổ đông chưa được sử dụng hiệu quả, từ đó ảnh hưởng tiêu cực tới lợi ích của các cổ đông. Nghiên cứu của Dechow & các cộng sự (1996) cho thấy các nhà đầu tư rất nhạy cảm với hành vi quản trị lợi nhuận thông qua việc cung cấp bằng chứng là có một sự sụt giảm khoảng 9% trong giá cổ phiếu của những công ty đang bị SEC - Cơ quan liên bang thực thi luật lệ chứng khoán của Mỹ điều tra về hành vi quản trị lợi nhuận. Tình hình nghiên cứu trong nước 1. Nghiên cứu về mô hình đo lường hành vi quản trị lợi nhuận Phạm Thị Bích Vân (2012) sử dụng mô hình nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận của Dechow và các cộng sự (1995) – Modified Jones với một nghiên cứu gồm 54 doanh nghiệp niêm yết trên HOSE trong năm 2010, tác giả Phạm Thị Bích Vân dựa theo kết quả nghiên cứu và đưa ra nhận định mô hình Modified Jones không hiệu quả trong việc nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE.
Kết quả này, trái ngược với các kết quả nghiên cứu của Giáp Thị Liên (2015) và Nguyễn Thị Phương Hồng (2016).