Chương 1. Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2. Tổng quan các bằng chứng thực nghiệm trên thế giới về chính sách cổ tức LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 Chương 3: Cơ sở dữ liệu và phương nghiên cứu Chương 4. Chính sách cổ tức của các Công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam thời gian qua.
Chương 5: Kết quả nghiên cứu về chính sách cổ tức của các Công ty niêm yết ở Việt Nam. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tổng quan các bằng chứng thực nghiệm trên thế giới về chính sách cổ tức 2. Các lý thuyết về chính sách cổ tức Hàng năm trên cơ sở lợi nhuận được tạo ra, công ty xác định tỷ lệ lợi nhuận trả cho cổ đông dưới hình thức cổ tức, và tỷ lệ lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư.
Các nhân tố quan trọng có ảnh hưởng đến chính sách cổ tức gồm lợi nhuận, đòn cân nợ, cấu trúc sỡ hữu, quy mô doanh nghiệp, rủi ro, tuổi, tốc độ tăng trưởng và thay đổi cổ tức (Eriostis and Vasiliou, (2003); Kania, Sharon L. Faris Nasif AL-Shubiri (2011)). Ngoài thực tế tất cả những kết quả này dựa vào dữ liệu từ các tổ chức phi tài chính, rất ít người trong số họ dựa trên dữ liệu từ các nền kinh tế đang phát triển John, knyazeva, (2007). Một số lý thuyết trình bày về chính sách cổ tức.
Một số lý thuyết đó là lý thuyết MM, lý thuyết về vấn đề phát tín hiệu, lý thuyết về chi phí đại diện và dòng tiền tự do, lý thuyết về chu kỳ kinh doanh, lý thuyết trật tự phân hạng. Lý thuyết MM – Merton Miller và Franco Modigliani (1961) Năm 1961, Miller và Modigliani (MM) công bố công trình lý thuyết chính sách cổ tức không tác động đến giá trị doanh nghiệp. Lý thuyết này dựa trên giả định thị trường vốn hoàn hảo, hành vi của nhà đầu tư là hợp lý và không có thông tin bất cân xứng. Thị trường vốn hoàn hảo hàm ý không có thuế, không có chi phí giao dịch, không có chi phí phát hành và không có sự khác biệt về thuế giữa cổ tức và lãi vốn.
Hành vi hợp lý của các nhà đầu tư hàm ý các nhà đầu tư thích tối đa hóa giá trị tài sản của mình và không phân biệt giá trị đó đến từ cổ tức hay lãi vốn. Không tồn tại thông tin bất cân xứng nghĩa là các nhà quản lý doanh nghiệp và những nhà đầu tư bên ngoài đều nhận được thông tin như nhau, vì thế các nhà đầu tư biết tất cả về lợi nhuận và dòng tiền tương lai của doanh nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 Cuộc tranh luận về chính sách cổ tức có tác động đến giá trị doanh nghiệp trở nên sôi nổi sau khi MM đưa ra lập luận của hai ông cho rằng chính sách cổ tức không tác động đến giá trị doanh nghiệp. Các học giả tài chính đồng tình với quan điểm của MM trong một thế giới hoàn hảo với những giả định chính ở trên, nhưng họ cho rằng trên thực tế thị trường tồn tại các bất hoàn hảo.
Từ đó tranh luận về chính sách cổ tức có tác động đến giá trị doanh nghiệp chủ yếu nhằm vào các bất hoàn hảo của thị trường. Và đưa ra các lý giải ủng hộ cho lập luận chính sách cổ tức có tác động đến giá trị doanh nghiệp. Lý thuyết vấn đề phát tín hiệu Theo nghiên cứu của Bhattachar (1979) và Miller và Rock (1985) thì các nhà đầu tư không phản ứng với chính sách cổ tức mà với các thông tin chứa đựng bên trong chính sách cổ tức. Việc tăng cổ tức có thể là một tín hiệu cho rằng các nhà quản trị công ty rất lạc quan về dòng thu nhập trong tương lai của công ty.
Vì thông thường các công ty rất ngại cắt giảm cổ tức nên họ chỉ quyết định tăng cổ tức nếu tin rằng có thể duy trì mức cổ tức cao đó trong tương lai. Do vậy mà tăng cổ tức sẽ dẫn đến giá cổ phiếu tăng. Nhưng chính tín hiệu lạc quan - dòng thu nhập cao trong tương lai - chứ không phải là phương tiện truyền đạt tín hiệu - cổ tức tăng - làm cho giá cổ phiếu tăng lên. Deshmukh (2003, 2005) cho rằng, sự hiện diện mức độ cao hơn của thông tin bất cân xứng trong doanh nghiệp, mức trả cổ tức sẽ cao hơn để báo hiệu mức thu nhập tương tự, và ngược lại.
Nhóm nghiên cứu cho rằng chính sách cổ tức giả định được sử dụng như là tín hiệu về dòng thu nhập trong tương lai của công ty, mong đợi mối quan hệ đồng biến giữa chính sách cổ tức ở Anh và thông tin bất cân xứng. Tương tự như vậy, dự đoán có mối quan hệ đồng biến giữa chính sách cố tức và lợi nhuận. Lý thuyết về chi phí đại diện và dòng tiền tự do Jensen and Meckling (1976) đưa ra xuất phát từ mâu thuẩn lợi ích giữa các nhà quản lý công ty (người đại diện) và các cổ đông (người chủ). Trong môi trường bất cân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 18 xứng thông tin, mâu thuẩn này sẽ làm phát sinh chi phí đại diện.
Chẳng hạn như, khi một doanh nghiệp có dòng tiền tự do cao nhưng lại thiếu các cơ hội đầu tư sinh lợi, các nhà quản trị có thể nảy sinh động cơ đầu tư dòng tiền vượt trội này vào các hoạt động mà có thể làm giảm giá trị công ty. Lý thuyết đại diện cho rằng vấn đề đầu tư quá mức có thể được giải quyết thông qua việc gia tăng cổ tức, bởi lẽ chi trả cổ tức càng nhiều càng làm giảm dòng tiền tự do bên trong công ty và nếu có nhu cầu vốn đầu tư mới, công ty có thể huy động nguồn tài trợ bên ngoài. Gia tăng nguồn vốn bên ngoài buộc công ty phải chịu sự kiểm soát của thị trường vốn, điều này làm giảm khả năng thực hiện những đầu tư không hiệu quả của ban quản lý. Sự giám sát của những nhà cung cấp vốn bên ngoài cũng giúp đảm bảo rằng các nhà quản lý hành động vì lợi ích cao nhất của các cổ đông.
Các nhà đầu tư lo ngại vấn đề đại diện, vì thế họ có phản ứng tích cực với những thông tin tăng cổ tức và ngược lại. Lý thuyết chu kỳ kinh doanh Là một trong những lý thuyết giải thích về chính sách cổ tức. Lý thuyết này giải thích các doanh nghiệp trải qua các giai đoạn khác nhau trong chu kỳ kinh doanh của họ, họ có khuynh hướng thay đổi chính sách cổ tức tùy thuộc vào nhu cầu tài trợ mỗi giai đoạn. Theo lý thuyết này, các doanh nghiệp trong giai đoạn tăng trưởng ít chi trả cổ tức hơn các công ty trong giai đoạn bảo hòa.
Vì vậy, các doanh nghiệp bảo hòa không có nhiều cơ hội tăng trưởng với mong đợi trả cổ tức nhiều hơn. Murhadi (2010) cho rằng các doanh nghiệp trong giai đoạn tăng trưởng có xu hướng không trả cổ tức nhiều so với các doanh nghiệp ở giai đoạn bão hòa. Lý thuyết trật tự phân hạng Lý thuyết này có nguồn gốc từ Myers (1984) and Myers Majluf (1984). Lý thuyết giả định rằng giám đốc công ty nắm thông tin cá nhân, các nhà đầu tư thì không.
Hơn nữa, lý thuyết này cho rằng công ty thích tài trợ cho hoạt động của họ thông qua chi phí thấp nhất như lợi nhuận giữ lại. Lựa chọn thứ hai của tài trợ thông qua nợ. Lựa chọn sau LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 19 cùng của tài trợ thông qua chi phí cao nhất, phát hành cổ phần mới trong thị trường chứng khoán (Al-Yahyaee, (2006); Faulkender, et al. Số lượng cổ tức phân phối, vì vậy, giảm lợi nhuận giữ lại, có thể dẫn đến nhu cầu vay nợ (Al-Yahyaee, (2006)).
Công ty có lợi nhuận cao hơn mong đợi thì lệ thuộc nhiều vào lợi nhuận giữ lại, do đó mong đợi có mối quan hệ đồng biến giữa tỷ lệ chi trả cổ tức và lợi nhuận. Các nhân tố ảnh hưởng chính sách cổ tức Dựa vào các nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh rằng có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức của doanh nghiệp như: lợi nhuận, quy mô, tốc độ tăng trưởng, tài sản hữu hình, rủi ro, tính thanh khoản, đòn bẩy tài chính, quyền sở hữu, thu nhập trên mỗi cổ phần, thuế. Do đặc trưng của nền kinh tế Việt Nam nên trong bài luận văn này tác giả sẽ tổng kết các nghiên cứu lý thuyết cũng như các nghiên cứu thực nghiệm trước đây và dựa vào sáu biến của bài nghiên cứu Kania, Sharon L. Ngoài ra tác giả chọn thêm hai biến của bài nghiên cứu Dr.
Faris Nasif AL-Shubiri (2011) gồm: quy mô công ty (SIZE), tài sản hữu hình (TANG). Sở dĩ tác giả chọn thêm biến quy mô công ty (SIZE) vì quy mô được xem là dấu hiệu đầu tiên để các nhà đầu tư bên ngoài biết đến doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ là lợi thế trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh như hiện nay. Do đó, hầu hết các doanh nghiệp đều hướng tới việc mở rộng quy mô để tận dụng lợi thế quy mô lớn.
Những doanh nghiệp đạt được quy mô lớn là kết quả của một quá trình phát triển lâu dài, do đó được biết đến nhiều và tạo được uy tín trên thị trường; mặt khác, một quy mô lớn tương ứng với một tiềm lực tài chính vững mạnh, doanh nghiệp càng có điều kiện tiếp cận thị trường tài chính và các tổ chức tài chính tín dụng hơn các doanh nghiệp có quy mô nhỏ. Vì vậy, doanh nghiệp sẽ dễ dàng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 20 hơn trong việc tìm kiếm các nguồn tài trợ. Tác giả chọn biến tài sản hữu hình (TANG) vì dưới áp lực của việc cạnh tranh, các doanh nghiệp phải đầu tư cơ sở hạ tầng, máy móc thiết bị, những dây chuyền công nghệ sản xuất hiện đại có công suất lớn nhằm sản xuất các mặt hàng xuất khẩu có chất lượng cao để có thể đáp ứng được nhu cầu của các thị trường khó tính nhất và đảm bảo được những tiêu chuẩn khắt khe về sản phẩm của các quốc gia nhập khẩu. Chính vì vậy, các doanh nghiệp đầu tư nhiều TSCĐ hữu hình.
Nhân tố lợi nhuận (ROE) Lợi nhuận của doanh nghiệp là nhân tố quyết định lâu dài của chính sách cổ tức. Các nhà quản lý đề nghị chi trả cổ tức khi công ty tạo ra lợi nhuận để đảm bảo việc chi trả cổ tức. Lợi nhuận là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến việc chi trả cổ tức Al- Kuwari (2009).