phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung nghiên cứu của đề tài đƣợc trình bày thành ba chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Một số lý luận cơ bản về các yếu tố ảnh hƣởng đến cân bằng tài chính dài hạn của doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu về các yếu tố ảnh hƣởng đến cân bằng tài chính dài hạn của các Công ty niêm yết thuộc nhóm ngành sản xuất thực phẩm đồ uống Việt Nam. Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và hàm ý từ kết quả nghiên cứu. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Các nghiên cứu về cân bằng tài chính dài hạn đã đƣợc các học giả trên thế giới quan tâm từ khá sớm, hiện tại ở Việt Nam đã có các nghiên cứu thực nghiệm về vấn đề này.
Cân bằng tài chính dài hạn nói một cách tổng quát chính là sự điều hòa hợp lý giữa cấu trúc vốn và cấu trúc tài sản. Do đó chỉ tiêu vốn lƣu động ròng đƣợc đƣa ra để đo lƣờng tình trạng cân bằng tài chính dài hạn của doanh nghiệp và lý thuyết nền tảng của cân bằng tài chính dài hạn chính là lý thuyết cấu trúc vốn. Sau đây tác giả xin giới thiệu những công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nƣớc mà các nghiên cứu thực nghiệm này là cơ sở để tác giả tiếp tục bài nghiên cứu của mình. Theo kết quả nghiên cứu thực nghiệm của Afrifa, Adjapong (2016) trên 6.926 doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Anh trong giai đoạn 10 năm (từ năm 2004 đến năm 2013), khi xem xét các ảnh hƣởng tƣơng tác của sự sẵn có của dòng tiền cho thấy mối quan hệ giữa vốn lƣu động ròng và kết quả hoạt động là mối quan hệ cùng chiều nhau.
Các kết quả còn làm nổi bật một thực tế rằng trong trƣờng hợp dòng tiền không có sẵn, các công ty nên cố gắng để giảm đầu tƣ vào vốn lƣu động. Mặt khác, nghiên cứu ủng hộ ý tƣởng rằng các công ty có dòng tiền khả dụng cao sẽ tăng đầu tƣ vào vốn lƣu động để cải thiện hiệu quả kinh doanh. Nghiên cứu cho thấy rằng kết quả hoạt động kinh doanh là một trong những yếu tố quyết định đến vốn lƣu động ròng [7]. Đã có các nghiên cứu trên thế giới và trong nƣớc quan tâm đến yếu tố quy mô doanh nghiệp và ảnh hƣởng của quy mô doanh nghiệp đến cấu trúc vốn, cấu trúc tài chính, hiệu quả hoạt động kinh doanh cũng nhƣ cân bằng tài chính dài hạn trong doanh nghiệp.
Quy mô doanh nghiệp càng lớn thì doanh nghiệp thƣờng sẽ có lợi thế khi cộng tác hoạt động với các tổ chức tài chính (ngân hàng) cũng nhƣ nhà cung cấp. Nghiên cứu của Suleiman (2006) đã kết luận rằng quy mô doanh nghiệp có mối quan hệ thuận chiều với vốn lƣu động Luan van 6 ròng [14]. Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 là cột mốc nghiên cứu của Haron, Razali, Nomran, Naji Mansour (2016) về các yếu tố quyết định đến quản trị vốn lƣu động ròng của các công ty Malaysia trƣớc, trong và sau cuộc khủng hoảng này [11]. Tầm quan trọng của nghiên cứu này là cung cấp bằng chứng thực nghiệm về cách các doanh nghiệp có thể quản lý vốn lƣu động ròng.
Nghiên cứu này cho thấy rằng các lợi nhuận, nợ, tăng trƣởng doanh thu, dòng tiền tự do và quy mô doanh nghiệp có ảnh hƣởng đáng kể đến vốn lƣu động ròng, trong đó lợi nhuận và quy mô doanh nghiệp là hai yếu tố liên quan nhiều nhất bất kể trƣớc, trong hoặc sau khủng hoảng. Nghiên cứu của Wasiuzzaman (2012) đã cho thấy rằng: Có mối quan hệ tỉ lệ nghịch giữa vốn lƣu động ròng và đòn bẩy tài chính [16]. Số năm hoạt động đã đƣợc Abor (2008) nghiên cứu cho kết quả tỷ lệ thuận với đòn bẩy tài chính [6]. Ở Việt Nam cũng đã có những nghiên cứu đề cập đến yếu tố số năm hoạt động nhƣ nghiên cứu của Nguyễn Thị Thuý Hằng (2013): phân tích các nhân tố ảnh hƣởng tới cấu trúc tài chính của các công ty may tại thành phố Đà Nẵng, kết quả cho thấy rằng số năm hoạt động có tác động cùng chiều với cấu trúc vốn [2].
Tác giả chƣa tìm thấy nghiên cứu nào nghiên cứu về ảnh hƣởng của số năm hoạt động đến cân bằng tài chính dài hạn, nghiên cứu trong nƣớc về cân bằng tài chính dài hạn gần đây nhất của Đinh Thị Thu Thủy (2015) [5] cũng chƣa đƣợc đề cập. Các nghiên cứu nêu trên đã khẳng định số năm hoạt động là yếu tố có ảnh hƣởng đến đòn bẩy tài chính, mức độ công bố thông tin, trong nghiên cứu của mình tác giả muốn làm rõ xem ngoài những ảnh hƣởng đến các yếu tố nêu trên thì số năm hoạt động có ảnh hƣởng đến cân bằng tài chính dài hạn trong doanh nghiệp hay không. Luan van 7 Nghiên cứu trong nƣớc gần đây nhất về cân bằng tài chính dài hạn là nghiên cứu của Đinh Thị Thu Thủy (2015) cũng đã nghiên cứu phân tích các nhân tố ảnh hƣởng đến cân bằng tài chính dài hạn của các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam [5]. Bằng phƣơng pháp phân tích hồi quy với mẫu nghiên cứu từ năm 2012 đến năm 2014, kết quả nghiên cứu của tác giả chỉ ra rằng cấu trúc tài chính, chu kỳ tiền mặt, cấu trúc tài sản, biến động doanh thu và cân bằng tài chính dài hạn có mối tƣơng quan tỉ lệ nghịch với nhau.
Kết quả cũng cho thấy rằng tồn tại mối tƣơng quan cùng chiều giữa khả năng thanh toán nhanh và cân bằng tài chính dài hạn. Ngoài ra, các yếu tố nhƣ hiệu quả hoạt động kinh doanh, vốn lƣu động ròng năm trƣớc, quy mô doanh nghiệp và dòng tiền từ hoạt động kinh doanh không ảnh hƣởng đến tình hình cân bằng tài chính dài hạn của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành nghiên cứu. Hiện nay, giới tính của lãnh đạo doanh nghiệp đang đƣợc học giả quan tâm, nghiên cứu trong nƣớc của Quan Minh Nhựt và Lý Thị Phƣơng Thảo (2014): phân tích các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp bất động sản đang niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam đã đề cập đến biến giới tính của lãnh đạo doanh nghiệp, kết quả mô hình chƣa làm rõ đƣợc mối quan hệ này [4]. Nghiên cứu của Kabeer và cộng sự (2012) đã chỉ ra các yếu tố về giới tính, tình trạng hôn nhân, trình độ…của nhà lãnh đạo nếu khác nhau thì năng lực lãnh đạo, phong cách lãnh đạo cũng sẽ khác nhau [12].
Tuy nhiên, chƣa có nghiên cứu thực nghiệm nào chứng minh mối quan hệ giữa giới tính lãnh đạo doanh nghiệp với tình hình cân bằng tài chính dài hạn, trong nghiên cứu của mình tác giả muốn tìm hiểu xem yếu tố giới tính lãnh đạo doanh nghiệp và cân bằng tài chính dài hạn có tồn tại mối quan hệ với nhau hay không. Từ các nghiên cứu thực nghiệm đi trƣớc trên thế giới cũng nhƣ trong Luan van 8 nƣớc cho thấy có nhiều các yếu tố ảnh hƣởng đến cân bằng tài chính dài hạn của doanh nghiệp. Một số yếu tố ảnh hƣởng đến cân bằng tài chính dài hạn đƣợc kể đến nhƣ là : cấu trúc tài chính, chu kì tiền mặt, cấu trúc tài sản, biến động doanh thu, kết quả hoạt động kinh doanh, tỷ lệ thanh toán nhanh,…. Tuy nhiên vẫn còn tồn tại những ý kiến trái chiều nhau về chiều hƣớng tác động và mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố đến cân bằng tài chính dài hạn.
Điều này có thể đƣợc lý giải là do có sự không đồng nhất của điều kiện bên trong cũng nhƣ bên ngoài của mỗi quốc gia, mỗi nhóm ngành cũng nhƣ mỗi một doanh nghiệp. Căn cứ vào đặc điểm riêng của ngóm ngành sản xuất thực phẩm đồ uống và điều kiện chung của nền kinh tế thị trƣờng tại Việt Nam, tác giả sẽ chọn lọc vận dụng những yếu tố thật sự có ý nghĩa và vận dụng đƣa ra thêm các yếu tố để sử dụng cho nghiên cứu của mình. Nhƣ đã đề cập ở trên, yếu tố số năm hoạt động của doanh nghiệp đã đƣợc các học giả trong nƣớc và ngoài nƣớc nghiên cứu trong mối quan hệ với đòn bẩy tài chính, mức độ công bố thông tin, tuy nhiên yếu tố số năm hoạt động doanh nghiệp chƣa đƣợc các học giả nghiên cứu, xem xét trong mối quan hệ với cân bằng tài chính dài hạn. Với lập luận các doanh nghiệp lâu năm là những doanh nghiệp đã tồn tại và phát triển trong thời gian lâu dài do đó đội ngũ lãnh đạo của các doanh nghiệp này có đầy đủ kinh nghiệm để đối phó với những thay đổi từ yếu tố bên trong cũng nhƣ bên ngoài doanh nghiệp; mức độ tin tƣởng của ngân hàng cũng nhƣ nhà đầu tƣ đối với doanh nghiệp lâu năm thƣờng cao hơn so với doanh nghiệp mới thành lập, vì vậy khả năng huy động vốn thƣờng xuyên của các doanh nghiệp lâu năm thƣờng cao hơn so với các doanh nghiệp mới thành lập từ đó cân bằng tài chính dài hạn của doanh nghiệp đƣợc an toàn hơn.
Dựa trên những lập luận này, tác giả cho rằng tồn tại mối quan hệ thuận chiều giữa yếu tố số năm hoạt động của doanh nghiệp với cân bằng tài chính dài hạn, do đó Luan van 9 tác giả đƣa yếu tố này vào mô hình nghiên cứu của mình. Ngoài ra, yếu tố giới tính của lãnh đạo doanh nghiệp đƣợc tác giả xem xét và đƣa vào mô hình nghiên cứu dựa trên cơ sở nữ giới thƣờng thận trọng hơn trong việc ra quyết định và có xu hƣớng lựa chọn giải pháp an toàn, hạn chế rủi hơn, quan tâm nhiều hơn đến vấn đề cân bằng tài chính dài hạn hơn là xu hƣớng lựa chọn các quyết định mang tính mạo hiểm, nhiều rủi ro nhƣng có khả năng mang lại lợi nhuận cao so với nam giới. Các nghiên cứu thực nghiêm trƣớc đây thƣờng sử dụng phƣơng pháp hồi quy tuyến tính để phân tích với biến phụ thuộc là biến vốn lƣu động ròng. Doanh nghiệp đạt cân bằng tài chính dài hạn khi vốn lƣu động ròng dƣơng và mất cân bằng tài chính dài hạn khi vốn lƣu động ròng âm.
Tuy nhiên, nhà quản trị doanh nghiệp luôn quan tâm đến việc trong trƣờng hợp chỉ tiêu vốn lƣu động ròng không âm thì nguồn vốn thƣờng xuyên có ở mức đủ lớn để đảm bảo cho vốn lƣu động ròng không dễ dàng chuyển sang trạng thái âm cho dù có những biến động bất lợi về phía doanh nghiệp hay không, để đảm bảo cho tình hình cân bằng tài chính dài hạn của doanh nghiệp đạt trạng thái bền vững hay không.