CHƯƠNG 1 Từ thực tiễn khách quan, nhóm tác giả đã quyết định thực hiện nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu các nhân tố tác động đến ý định trở thành Freelancer của sinh viên tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” với đối tượng khảo sát là những sinh viên đang sinh sống, học tập và làm việc tại TP. Về phương pháp nghiên cứu, nhóm nghiên cứu kết hợp giữa nghiên cứu định tính và định lượng thông qua nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức với thời gian nghiên cứu bắt đầu từ 24/4/2023. 5 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 2.
Khái niệm Freelancer Theo nghiên cứu “Freelancers in the software development process: A systematic mapping study” cho rằng: “Những người làm nghề tự do là những người tự làm chủ có mối liên hệ ngắn hạn, dựa trên nhiệm vụ với người sử dụng lao động và do đó họ không phải là một phần của lực lượng lao động của công ty (nghĩa là họ không phải là nhân viên)”(Gupta et al. Khái niệm Sinh viên Tóm lại, sinh viên là người học trong các trường cao đẳng và đại học với các mục đích học tập và chương trình đào tạo khác nhau được tiếp thu kiến thức 7 tổng quan, cụ thể về một ngành nghề. Bên cạnh đó, họ cũng được đào tạo những kỹ năng cần thiết cho công việc trong tương lai. Khái niệm Ý định h Bên cạnh đó, nhóm tác giả cũng đưa ra so sánh giữa Freelancer với nhân viên thông thường và Freelancer với người khởi nghiệp; đồng thời, nhóm nêu ra những đặc điểm của Freelancer cũng như vai trò của Freelancer trong xã hội hiện nay (xem phụ lục 1).
Mô hình lý thuyết hành vi hợp lý - TRA 8 ) (Nguồn: (Fishbein & Ajzen, 1975)) 2. Mô hình lý thuyết hành vi dự định - TPB 9 Hình 2.2 Mô hình lý thuyết hành vi dự định (TPB) (Nguồn: (Ajzen, 1991)) 10 2. Mô hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2. Các nghiên cứu trong nước r ) r i Trong đó biến Thái độ cá nhân (β= 0.403) có tác động mạnh mẽ nhất, tiếp đến là biến Nhận thức kiểm soát hành vi (β=0.138), biến Vốn xã hội (β=0.137), biến Tính cách (β=0.131), biến Nhân thức xã hội (β=- 0.
Bên cạnh đó giá trị sig của các biến độc lập: Nhận thức xã hội(0.007), Tính cách cá nhân (0.000), Nhận thức kiểm 11 soát hành vi (0. Mong đợi về giá (< 0. Giá trị này cho thấy các biến độc lập đều có ý nghĩa và phù hợp với mô hình đang nghiên cứu. Hồ Chí Minh của Nhóm sinh viên UEH (2022) m.
Hồ Chí Minh Kết quả phân tích cho thấy ý định trở thành Freelancer của giới trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh được tác động bởi các nhân tố: Chuẩn chủ quan, Vốn con người, Tính cách cá nhân, Thu nhập. Trong đó biến Vốn con người (β= 0.294) có tác động mạnh mẽ nhất, tiếp đến là biến Chuẩn chủ quan (β= 0.253), biến Thu nhập (β=0.135), biến Tính cách cá nhân (β=0. Bên cạnh đó giá trị sig của các biến độc lập: Chuẩn chủ quan, Vốn con người, Tính cách cá nhân, Thu nhập (< 0. Giá trị này cho thấy các biến độc lập đều có ý nghĩa và phù hợp với mô hình đang nghiên cứu.
12 h Freelancer của sinh viên ĐH Kinh tế quốc dân - Nhóm 6_ PPNC(221)_12, 2022 a n Trong đó, biến Trình độ, kinh nghiệm bản thân có tác động mạnh mẽ nhất (β=0.267), tiếp đến là biến Xu hướng xã hội (β=0.259), biến Nhận thức kiểm soát hành vi (β=0.177), biến Các mối quan hệ (β=0.135), biến Đặc điểm tính cách cá nhân (β=0.110), biến Thái độ cá nhân (β=0.098), biến Lợi ích công việc (β=0. Bên cạnh đó giá trị sig của các biến độc lập: Nhận thức kiểm soát hành vi, Đặc điểm, tính cách cá nhân, Trình độ, kinh nghiệm bản thân, Thái độ cá nhân, Xu hướng xã hội, Các mối quan hệ, Lợi ích của công việc. Mong đợi về giá (< 0. Giá trị này cho thấy các biến độc lập đều có ý nghĩa và phù hợp với mô hình đang nghiên cứu.
Các nghiên cứu nước ngoài 2. Happy Free Willies? Investigating the relationship between freelancing and subjective well-being - Peter van der Zwan, Jolanda Hessels và Martijn Burger (2019).6 Mô hình nghiên cứu Happy Free Willies? Investigating the relationship between freelancing and subjective well-being (Nguồn: (van der Zwan et al., 2020)) Kết quả phân tích cho thấy mức độ hạnh phúc chủ quan của những người làm nghề tự do được tác động bởi các yếu tố: Cuộc sống, Công việc, Thời gian giải trí, Thu nhập, Sức khoẻ. Trong đó, nghiên cứu cho thấy mức độ hài lòng đặc biệt cao với thời gian rảnh rỗi của những người làm nghề tự do. Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra các nhận định để chỉ ra tính tự chủ, tính linh hoạt và sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống có liên quan đáng kể, tích cực đến thành công nghề nghiệp chủ quan của những người làm nghề tự do.
Ngoài ra, tác giả cũng phân tích về mức độ rủi ro, ảnh hưởng mà công việc tự do mang lại như danh tiếng, sự ổn định, thu nhập,. Bài nghiên cứu có sự tìm hiểu sâu, vận dụng rất nhiều nguồn thông tin từ những người nghiên cứu trước, trong đó có rất nhiều nội dung phù hợp với đề tài mà nhóm đang tìm hiểu. Factors Affecting Freelancing Success - Aadil Idrees, Dua-E- Zehra, Vishal Das và Ikramuddin Junejo (2022) Hình 2.7 Mô hình nghiên cứu Factors Affecting Freelancing Success (Nguồn: (Idrees et al., 2022)) Kết quả phân tích cho thấy sự hài lòng nghề nghiệp của người làm nghề tự do trong giới trẻ của Hyderabad được tác động bởi các yếu tố: Năng lực bản thân, Tính cách chủ động, Công nghệ kỹ thuật số. Trong đó, biến Tích cách chủ động (β=0.329) có tác động tích cực mạnh mẽ nhất, tiếp đến là biến Năng lực bản thân (β=0.303), biến Công nghệ kỹ thuật số (β=0.
Bên cạnh đó giá trị sig của các biến độc lập: Năng lực bản thân, Tính cách chủ động, Công nghệ kỹ thuật số, mong đợi về giá (< 0. Giá trị này cho thấy các biến độc lập đều có ý nghĩa và phù hợp với mô hình đang nghiên cứu. The Impact of Social and Cultural Norms, Government Programs and Digitalization as Entrepreneurial Environment Factors on Job and Career Satisfaction of Freelancers - Huđek, I.8 Mô hình nghiên cứu The Impact of Social and Cultural Norms, Government Programs and Digitalization as Entrepreneurial Environment Factors on Job and Career Satisfaction of Freelancers (Nguồn: (Huđek et al., 2021)) Kết quả phân tích cho thấy sự hài lòng nghề nghiệp được tác động bởi các yếu tố: Công nghệ kỹ thuật số, Chương trình của chính phủ, Chuẩn mực văn hóa và xã hội. Trong đó, biến Công nghệ kỹ thuật số (β=0.15) có tác động tích cực mạnh mẽ nhất, tiếp đến là biến Chương trình của chính phủ (β=0.13), biến Chuẩn mực văn hoá và xã hội (β=0.
Bên cạnh đó giá trị sig của các biến độc lập: Công nghệ kỹ thuật số, Chuẩn mực văn hóa và xã hội, mong đợi về giá (< 0. Giá trị này cho thấy các biến độc lập đều có ý nghĩa và phù hợp với mô hình đang nghiên cứu. Mặt khác, Chương trình của chính phủ có tác động tiêu cực và không đáng kể ( p = 0,46) đối với sự hài lòng về công việc và nghề nghiệp không có ý nghĩa thống kê, do đó tác giả bác bỏ giả thuyết này. Các yếu tố ảnh STT Phạm vi Hướng tiếp cận hưởng được xác định 16 Lê Phương Mai, Vốn con người, 2020 Thái độ cá nhân, Nhóm sinh viên Chuẩn chủ quan, UEH, 2022 Các nhân tố ảnh hưởng Vốn con người, đến quyết định chọn làm Tính cách cá 2 nhân, Thu nhập, Tính linh hoạt - Hồ sự tự do, Nhận Chí Minh thức kiểm soát hành vi Nhóm 6_ PPNC(221)_12, 2022 3 Các mối quan hệ, Lợi ích của công việc 4 Nghiên Happy Free Willies? Cuộc sống, Công Peter van der 17 Investigating the việc, Thời gian Zwan, Jolanda relationship between giải trí, Thu Hessels và Martijn freelancing and nhập, Sức khoẻ Burger, 2019 subjective well-being Năng lực bản Aadil Idrees, Dua- thân, Tính cách E-Zehra, Vishal Factors Affecting 5 chủ động, Công Das và Ikramuddin Freelancing Success nghệ kỹ thuật số Junejo, 2022 cứu nước ngoài The Impact of Social Công nghệ kỹ (Huđek et al., and Cultural Norms, thuật số, Chuẩn 2021) Government Programs mực văn hóa và and Digitalization as xã hội.
6 Entrepreneurial Environment Factors on Job and Career Satisfaction of Freelancers Bảng 2.1 Tổng hợp một số nghiên cứu trong và ngoài nước 2. Khoảng trống nghiên cứu Có thể thấy, các bài nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định trở thành Freelancer của sinh viên hiện nay trên phạm vi trong nước còn hạn chế. Để tìm được bài nghiên cứu trình bày về ý định trở thành Freelancer của sinh viên tại TP. HCM thực sự không nhiều.
Trong khi đó số lượng lao động tại TP. HCM chiếm số lượng không nhỏ trong thị trường Freelance. Một vài nghiên cứu tìm được chỉ tập trung vào nhóm nhỏ sinh viên thuộc chuyên ngành, một khoa hay trường Đại học cụ thể, không đi bao quát đến tổng thể, không đa dạng mẫu. Điều này mang lại 18 giá trị không quá khách quan cho một mô hình nghiên cứu.
Nhìn chung, trong cùng một môi trường các cá nhân đã có sự tác động qua lại và hình thành nên ý thức chung, khi đánh giá trong phạm vi nhỏ kết quả mang lại sẽ gần giống nhau. Vì thế, các nghiên cứu ấy không giải quyết được tính khách quan hay độ tin cậy cao cho bản chất của một bài nghiên cứu sự tác động của các nhân tố. Bên cạnh đó, các bài nghiên cứu nước ngoài lại đi sâu vào nghiên cứu các nước phát triển, trong khi đó tình hình kinh tế nước ta đang ở trạng thái đang phát triển. Sự khác biệt về kinh tế, văn hóa, lối sống, chính trị và giáo dục sẽ dẫn đến việc hình thành quan điểm, cách nhìn nhận vấn đề, yếu tố ảnh hưởng cũng sẽ khác nhau.
Và khi so sánh những nghiên cứu theo các mốc thời gian, nhóm tác giả thấy rằng lĩnh vực Freelance ngày càng có nhiều sự thay đổi. Các nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng cũng có sự đổi mới từ yếu tố này sang yếu tố khác, thêm hoặc mất đi một hoặc một vài yếu tố cụ thể. Những nghiên cứu trước đây đang dần không còn phản ánh đúng thực tế hiện tại. Giả thuyết nghiên cứu i u : Thái độ cá nhân Mỗi người đều có một quan điểm khác nhau về một vấn đề.