CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ THAM GIA BẢO HIỂM Y TẾ CỦA NÔNG DÂN 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề luận án 1.1 Những công trình nghiên cứu ngoài nước Bảo hiểm y tế là một trong những chính sách an sinh xã hội quan trọng do vậy đây là vấn đề được rất nhiều học giả trên thế giới quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, trên thực tế hầu hết các tác giả mới chỉ dừng lại nghiên cứu về hệ thống bảo hiểm y tế của các quốc gia trên thế giới, các thành công của các quốc gia này trong việc triển khai BHYT toàn dân. Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau đây: Thomas G.McGuire (2012), “Handbook of Health Economics”, đã đưa ra những hiểu biết tổng quan về hệ thống y tế và lựa chọn về bảo hiểm y tế. Tác giả đã đưa ra những phân tích, so sánh liên quan đến cấu trúc, sự phát triển của BHYT ở Mỹ, các quốc gia có thu nhập cao và những nước có thu nhập trung bình.
Nghiên cứu này chỉ ra, những ảnh hưởng từ phía cung và cầu đến sự phát triển của hệ thống BHYT cũng như phương thức xác định phí tham gia BHYT. Fiocca và Hey (1989) Trong bài báo “The demand for Italian health insurance” đã chỉ ra rằng cũng giống như hầu hết các quốc gia khác, hệ thống chăm sóc sức khỏe y tế ở Italia có sự cùng hoạt động của khu vực công và khu vực tư, đặc biệt là sự phát triển của hệ thống BHYT tư nhân. Chính vì vậy, người dân có thể lựa chọn các loại hình bảo hiểm với các mức độ khác nhau. Tuy nhiên khác với vương quốc Anh, BHYT tư nhân là tương đối linh hoạt trong chi trả chi phí phẫu thuật và chi phí y tế.
Còn ở Italia thì người ta nhận thấy rằng họ buộc phải lựa chọn bảo hiểm y tế do khu vực công khi họ không đủ khả năng tham gia BHYT do khu vực tư nhân cung ứng. Nghiên cứu này đưa ra một câu hỏi là tại sao các cá nhân lại lựa chọn mua bảo hiểm y tế khi những chăm sóc y tế được cung cấp miễn phí bởi các bệnh viện công. Nói cách khác tại sao lại sự phát triển của BHYT tư nhân ngày càng gia tăng khi mà hệ thống y tế quốc gia đang tồn tại. Lý giải cho vấn đề này Fiocca và Hey cho rằng người dân Italia đang cảm thấy không hài lòng đối với hệ thống chăm sóc y tế quốc gia và cảm thấy nghi ngờ với chất lượng chăm sóc y tế của hệ thống này.
Yuyu Chen và Zhe Jin (2012), bài viết “Does health insurance coverage lead to better health and educational outcomes? Evidence from rural China” chỉ ra các mối quan hệ giữa tác động của BHYT đối với tình trạng sức khỏe, tình trạng tử vong của 5 bà mẹ, và trẻ em, năng suất lao động, khả năng cho con theo học và tiết kiệm tài chính từ điều trị y tế của các gia đình sở hữu thẻ bảo hiểm y tế. Và thông qua số liệu điều tra ở khu vực nông thôn Trung Quốc, khi so sánh những đầu ra kể trên giữa hai nhóm hộ có bảo hiểm y tế và nhóm hộ không sử dụng loại thẻ này thì kết quả những hiệu ứng tích cực được chỉ ra từ nhóm các hộ sử hữu thẻ bảo hiểm y tế. Mặc dù vậy, kết quả nghiên cứu này cũng cho rằng đối với người dân nông thôn sở hữu thẻ bảo hiểm y tế thì nếu muốn có những điều trị tốt hơn thì họ phải tự bỏ tiền túi ra để hưởng những điều trị này. Kondo và Shigeoka (2013) trong bài viết “Effects of universal health insurance on health care utilization, and supply-side responses: Evidence from Japan” trên tạp chí Journal of Public Economics 99, (2013).
Trong bài viết này, tác giả chỉ ra BHYT toàn dân làm cho tình trạng chăm sóc sức khỏe của đối tượng thụ hưởng tăng lên đáng kể thông qua việc người dân đến các cơ sở y tế để khám và điều trị bệnh nhiều hơn. Để giải quyết được tốt nhiệm vụ đặt ra từ BHYT toàn dân, nghiên cứu này cho rằng các quốc gia muốn thực hiện BHYT toàn dân phải chuẩn bị nguồn lực tài chính thỏa đáng để trang trải các chi phí điều trị cho cả ngắn hạn và dài hạn. Đây cũng là điều mà GERTLER (1994) trong bài viết “On the Road to Social Health Insurance: the Asian Experience” (con đường tới bảo hiểm y tế xã hội: kinh nghiệm của châu Á) trên tạp chí World Development Vol. Tác giả cho rằng để khắc phục những khó khăn về tài chính trong chăm sóc y tế rất nhiều quốc gia đang phát triển và những nước có thu nhập trung bình thực hiện BHYT bắt buộc.
Tuy nhiên, việc thực hiện BHYT toàn dân là điều chỉ có thể làm được ở những quốc gia có thu nhập cao như Nhật bản, Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan. Takakazu Yamagishi (1992) trong cuốn : “War and Health Insurance Policy in Japan and the United States: World War II .” đã trình bày tương đối rõ ràng về những thay đổi trong chính sách BHYT ở Hoa Kỳ và Nhật Bản kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai. Reka Sundaram-Stukel and Steven Deller (2010) trong nghiên cứu: “Farmer Health Insurance Cooperatives: An Innovative Solution for Other Americans?” đã nghiên cứu, chỉ ra những tồn tại trong chính sách BHYT nông dân của Hoa Kỳ. Một trong những vấn đề đặt ra với nông dân là chi phí BHYT khá cao.
Để giải quyết hạn chế này, các tác giả gợi ý người dân có thể tổ chức các hợp tác xã BHYT nhằm mua BHYT theo nhóm, giảm chi phí. Sarosh Kuruvilla Cornell University, Liu Cornell University, (2007): “Health 6 Security for the Rural Poor? A Case Study of a Health Insurance Scheme for Rural Farmers and Peasants in India”. Đây là một nghiên cứu trường hợp của một sự đổi mới quan trọng trong việc cung cấp chăm sóc sức khỏe cho người nghèo nông thôn được thực hiện qua Đề án bảo hiểm y tế cho người dân nông thôn và nông dân ở Karnataka, Ấn Độ. Ở đây đã bắt đầu thực hiện BHYT cho người nghèo nông thôn, chương trình này được bắt đầu vào năm 2003.
Đề án thiết kế theo những cách khắc phục những thách thức để cung cấp an toàn sức khỏe cho người dân nông thôn, chương trình bảo hiểm. Trên cơ sở này, tác giả xây dựng một mô hình cho các nước đang phát triển nói chung. Tetsuo Fukawa (2002), “Public Health Insurance in Japan”. Trong đó, tác giả cho biết hầu hết các dịch vụ y tế tại Nhật Bản được cung cấp thông qua hệ thống BHYT công cộng, trong đó bao gồm các toàn dân.
Mặc dù khu vực tư nhân đã thành lập một cơ sở hạ tầng quan trọng mang dịch vụ y tế và duy trì sức khỏe cộng đồng, vai trò của nó là tương đối nhỏ về tài chính y tế. Khi xem xét vấn đề này trong bài viết này, phần đầu bài viết mô tả lịch sử của hệ thống BHYT và các vấn đề Nhật Bản đã phải đối mặt với quá trình phát triển của hệ thống, phần tiếp theo mô tả hệ thống BHYT hiện tại, khám phá BHYT Nhật Bản từ góc độ so sánh giữa hiện tại với các vấn đề có thể xảy ra trong tương lai và những bài học có thể rút ra từ kinh nghiệm của Nhật Bản cho đến nay. Song Gao and Xiangyi Meng, (2004), “Health and Rural Cooperative Medical Insurance in China: An empirical analysis”. Theo nghiên cứu này, Trung Quốc từ bỏ hệ thống chăm sóc y tế toàn miễn phí và tư nhân kể từ năm 1980.
Hậu quả trực tiếp là nhiều người mất khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là những người không lao động tại các tổ chức, bao gồm cả nông dân ở nông thôn Trung Quốc, do đó giảm đáng kể sử dụng dịch vụ chăm sóc y tế của họ. Một làn sóng mới của y tế hợp tác nông thôn bảo hiểm lần đầu tiên được quảng bá tại các khu vực được lựa chọn trong năm 2003 và từ đó đã nhân rộng cho cả đất nước. Mục tiêu cuối cùng là để người dân ở tất cả các vùng nông thôn khu vực được tiếp cận với dịch vụ y tế vào năm 2010. Nhờ vậy, bảo hiểm y tế có tác động tích cực đáng kể về cá nhân tình trạng sức khỏe, thậm chí trong thời gian chăm sóc sức khỏe tư nhân.2 Những công trình nghiên cứu trong nước Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012 – 2020, đã chỉ rõ BHYT toàn dân là mục tiêu quan trọng của nước ta nhằm hướng tới xã hội hóa y tế, nâng cao chất lượng KCB.
7 Bảo hiểm xã hội Việt Nam, “Đề án thực hiện lộ trình tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân giai đoạn 2012 - 2015 và 2020. Theo đề án này, nước ta sẽ gia tăng tỷ lệ bao phủ BHYT toàn dân. Một trong các giải pháp của Đề án là tăng tỷ lệ bảo hiểm y tế, trong đó, đối với các nhóm đối tượng đã đạt tỷ lệ bao phủ trên 90% thì tiếp tục duy trì tỷ lệ bao phủ và các giải pháp nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, tăng cường tiếp cận các dịch vụ y tế đồng thời tiếp tục thực hiện các giải pháp tuyên truyền chính sách, pháp luật về bảo hiểm y tế. Đối với một số nhóm đối tượng có tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế thấp, cùng với giải pháp chung (như tăng cường công tác tuyên truyền chính sách, pháp luật về bảo hiểm y tế, vận động tham gia, tăng cường tính hấp dẫn của bảo hiểm y tế), kết hợp với những giải pháp cụ thể phù hợp với từng nhóm đối tượng.
Cùng với việc tăng tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế, Đề án cũng đưa ra giải pháp nâng cao chất lượng và đáp ứng nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế, cải cách thủ tục hành chính, nâng cao tinh thần, thái độ, đạo đức nghề nghiệp để bảo đảm chất lượng phục vụ và sự hài lòng của người bệnh có thẻ bảo hiểm y tế ở cả hệ thống cơ sở khám chữa bệnh nhà nước và tư nhân.” (Bảo hiểm xã hội Việt Nam, 2014) Nguyễn Hoài Nam, Trường Đại học y dược Thành phố Hồ Chí Minh có bài viết “Phải xã hội hóa nền y tế mới phát triển”, đăng trên VietNamNet, tháng 3 năm 2006. Bài viết đề cập đến một số vấn đề về tư tưởng người dân về xã hội hóa y tế, đa dạng hóa bảo hiểm y tế, và chủ trương biến ngành y tế dịch vụ thành thế mạnh.