Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ kinh tế "Nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp vào khu kinh tế: trường hợp Khu kinh tế Nghi Sơn, Thanh Hóa" do nghiên cứu sinh Lê Thị Lan thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội, 2017), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Nguyễn Thành Độ và PGS.TS Lê Quang Cảnh. Luận án thuộc chuyên ngành Quản trị kinh doanh / Kinh tế học, giải quyết bài toán thực nghiệm về hành vi lựa chọn địa điểm đầu tư của doanh nghiệp vào mô hình khu kinh tế ven biển tại Việt Nam.
Tính cấp thiết của nghiên cứu xuất phát từ thực tiễn phát triển hệ thống khu kinh tế (KKT) tại Việt Nam. Kể từ khi KKT mở Chu Lai được thành lập năm 2003, cả nước đã quy hoạch 18 KKT ven biển (trong đó 16 KKT đã đi vào hoạt động), thu hút khoảng 300 dự án FDI với tổng vốn hơn 39 tỷ USD và 840 dự án trong nước với tổng vốn gần 566 nghìn tỷ đồng (số liệu Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2015). Mặc dù đóng góp vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế và giải quyết việc làm, sau hơn 10 năm vận hành, các KKT bộc lộ nhiều hạn chế: tỷ lệ lấp đầy thấp, nhiều dự án đăng ký không triển khai, hạ tầng chưa đồng bộ, thiếu vắng nhà đầu tư chiến lược sử dụng công nghệ cao. Về mặt thể chế, chính sách ưu đãi chủ yếu tập trung vào thuế và tiền thuê đất, chưa tạo được sự khác biệt so với các khu công nghiệp thông thường.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các công trình trước đây phần lớn tiếp cận từ góc độ quản lý nhà nước (nguồn cung chính sách) hoặc xem xét các yếu tố vĩ mô tác động đến dòng vốn FDI, chưa phân tích quyết định đầu tư từ góc độ khách hàng (doanh nghiệp). Đặc biệt, chưa có nghiên cứu thực nghiệm nào tại Việt Nam lượng hóa đồng thời tác động của các nhân tố bên ngoài và các nhân tố bên trong doanh nghiệp, cũng như kiểm định mức độ tương thích giữa đặc điểm doanh nghiệp với đặc trưng của KKT ven biển.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp vào KKT.
- Phân tích thực trạng hoạt động và các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp vào KKT tại Việt Nam, tập trung vào trường hợp KKT Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Lượng hóa mức độ ảnh hưởng của các nhóm nhân tố (bên trong và bên ngoài) đến xác suất ra quyết định đầu tư của doanh nghiệp vào KKT.
- Đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư vào KKT Nghi Sơn và các KKT ven biển Việt Nam.
Câu hỏi nghiên cứu được văn bản đánh số cụ thể gồm:
- Về mặt lý thuyết, có những nhân tố nào ảnh hưởng tới quyết định đầu tư của doanh nghiệp vào khu kinh tế? Những lý thuyết nào giải thích quyết định đầu tư của doanh nghiệp vào khu kinh tế?
- Trong bối cảnh Việt Nam, những nhân tố nào ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp vào khu kinh tế?
- Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp vào khu kinh tế như thế nào?
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu thực nghiệm, cần làm gì để thu hút hơn nữa đầu tư của doanh nghiệp vào các khu kinh tế ở Việt Nam?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp vào KKT.
- Đối tượng khảo sát: Lãnh đạo đại diện doanh nghiệp có thẩm quyền quyết định hoặc ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định đầu tư (Giám đốc, Phó Giám đốc, Trưởng phòng đầu tư) của các doanh nghiệp trong và ngoài KKT trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
- Phạm vi không gian: Khái quát hệ thống KKT ven biển Việt Nam và nghiên cứu sâu trường hợp KKT Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp thu thập giai đoạn 2006–2015; số liệu sơ cấp điều tra bằng bảng hỏi thực hiện từ tháng 8 đến tháng 11 năm 2016.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào mô hình KKT ven biển (không bao gồm KKT cửa khẩu). KKT Nghi Sơn được lựa chọn làm điển hình do diện tích quy hoạch lớn (ban đầu 18.611,8 ha, quy hoạch mở rộng 106.000 ha), sở hữu cảng nước sâu (tiếp nhận tàu 50.000 DWT), nằm trong nhóm 5 KKT trọng điểm được Trung ương ưu tiên đầu tư giai đoạn 2013–2015 (tiếp tục trong nhóm 8 KKT trọng điểm giai đoạn 2016–2020), và có quy mô vốn đăng ký đứng thứ hai cả nước (đạt 16,8 tỷ USD tính đến cuối năm 2015, bao gồm dự án Liên hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn 9,2 tỷ USD).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án điểm lại hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến khu kinh tế và quyết định đầu tư:
Các nghiên cứu quốc tế về khu kinh tế và địa điểm đầu tư:
- Nghiên cứu nguồn gốc và phân loại KKT: Amado (1989) phân tích quá trình hình thành khu thương mại tự do và khu công nghiệp tự do; World Bank (1992) và FIAS (1995, 2008) đánh giá mô hình khu chế xuất và các nguyên tắc vận hành KKT; UNIDO (2015) hệ thống hóa 5 giai đoạn phát triển của khu vực lãnh thổ kinh tế (Khu công nghiệp, Đặc khu kinh tế, Công viên sinh thái công nghiệp, Khu công nghệ cao, Đô thị đổi mới).
- Nghiên cứu thực nghiệm tại các quốc gia: P. Bhattacharjee (2008), Chikatisrinu (2013), Tarun Dhingra và Tripti Singh (2009) nghiên cứu thực trạng, cơ hội và thách thức của các SEZ tại Ấn Độ; Keea (2009) tổng kết 30 năm phát triển SEZ tại Trung Quốc; Yang và cộng sự (2011) đánh giá các yếu tố tác động đến đầu tư tại các khu kinh tế biên giới giữa Trung Quốc và các nước tiểu vùng Mê Kông; UNIDO (2015) khảo sát thực trạng KKT tại khối ASEAN.
- Nghiên cứu về quyết định đầu tư và hành vi lựa chọn: Stoner và Wankel (1987), Robbins và Coulter (1996) đề xuất quy trình ra quyết định quản trị; Kostecki (1997) xây dựng mô hình 7 bước lựa chọn địa điểm đầu tư tương ứng với quá trình mua hàng của Kotler (2002); Dunning (1997) phát triển mô hình OLI; Gilmore, Donnel và Cummins (2003) phân tích các yếu tố lựa chọn thị trường; Knack và Keefer (1995), Mauro (1995), Sachs và Warner (1997), Barro và Sala-i-Martin (1997) nghiên cứu ảnh hưởng của chất lượng thể chế và tuân thủ pháp luật; Liang và Wang (1991), Dilworth (1996), Al-Tamimi (2005), Sultana và Pardhasadhi (2012) khảo sát các nhân tố tài chính, hành vi và tâm lý của nhà đầu tư.
Các nghiên cứu tại Việt Nam:
- Nghiên cứu định hướng và thể chế KKT: Võ Đại Lược (2008, 2009) so sánh mô hình KKT tự do của Dubai, Hàn Quốc, Trung Quốc và đề xuất cơ chế chính sách riêng cho Việt Nam; Nguyễn Quang Thái (2010), Phan Minh Mẫn (2012), Thân Trọng Thụy và Phạm Xuân Hậu (2012), Trần Đình Thiên (2014), Vương Đình Huệ (2014) đánh giá thực trạng KKT ven biển và đề xuất khung thể chế đặc thù.
- Nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư: Phùng Xuân Nhạ (2001) xây dựng mô hình nhân tố Kéo – Đẩy và dung môi đầu tư; Triệu Hồng Cẩm (2003) kiểm định các nhân tố vĩ mô ảnh hưởng đến dòng vốn FDI tại Việt Nam; Lê Hoằng Bá Huyền (2012) khảo sát 6 nhóm nhân tố tác động đến quyết định đầu tư FDI tại tỉnh Thanh Hóa; Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2008) ứng dụng marketing địa phương xác định 4 nhân tố tạo sự hài lòng của doanh nghiệp; Vũ Hùng Cường và Trần Xuân Dưỡng (2014) khảo sát 139 doanh nghiệp tại KCN Hà Nam; Mai Văn Nam và cộng sự (2010) đánh giá 6 nhân tố thu hút đầu tư vào KCN tỉnh Tiền Giang; Từ Quang Phương (2013) phân tích các yếu tố kinh tế ảnh hưởng đến quyết định đầu tư.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết:
Phần lớn các công trình trong nước chỉ tập trung vào cấp độ khu công nghiệp hoặc đánh giá định tính về KKT, chưa có công trình nào lượng hóa mô hình hồi quy xác suất (Probit) về quyết định đầu tư vào KKT ven biển. Luận án định vị nghiên cứu bằng cách kết hợp lý thuyết marketing địa phương với lý thuyết lựa chọn tối ưu để xem xét đồng thời hai nhóm nhân tố bên trong (đặc điểm doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp) và bên ngoài (hạ tầng, vị trí, thể chế, chi phí, ưu đãi, truyền thông, môi trường sống, nhân lực).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự tích hợp của bốn nền tảng lý thuyết:
- Lý thuyết Marketing địa phương (Place Marketing): Dựa trên quan điểm của Kotler (2002), Kostecki (1997) và phát triển của Nguyễn Đình Thọ, Nguyễn Thị Mai Trang (2008), xem doanh nghiệp là khách hàng mục tiêu của địa phương. Địa phương sử dụng các công cụ hỗn hợp (hạ tầng, chính sách, môi trường, truyền thông) để đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp.
- Lý thuyết chiết trung – Mô hình OLI (Dunning, 1997) và mô hình Kéo – Đẩy (Phùng Xuân Nhạ, 2001): Giải thích quyết định lựa chọn địa điểm dựa trên lợi thế sở hữu (O), lợi thế địa điểm (L) và lợi thế nội hóa (I).
- Lý thuyết lựa chọn tối ưu (Rational Choice Theory): Theo Snyder và Nicholson (2008), doanh nghiệp ra quyết định lựa chọn địa điểm nhằm tối đa hóa hàm lợi nhuận qua việc gia tăng doanh thu hoặc cắt giảm chi phí đầu vào. Doanh nghiệp sẽ chọn địa điểm có đặc điểm tương thích cao nhất với đặc thù sản xuất kinh doanh của mình.
- Lý thuyết thể chế và môi trường đầu tư: Dựa trên các nghiên cứu của Knack và Keefer (1995), Mauro (1995), World Bank (2004) và bộ chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của VCCI/USAID, phân định giữa hạ tầng cứng và hạ tầng mềm trong thu hút đầu tư.
Quy trình và phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp (kết hợp định tính và định lượng) qua quy trình 5 bước:
| Bước thực hiện |
Nội dung và phương pháp kỹ thuật |
Mục tiêu đầu ra |
| Bước 1: Tổng quan nghiên cứu |
Nghiên cứu tại bàn (Desk study), tổng thuật tài liệu trong và ngoài nước. |
Xác định khoảng trống nghiên cứu và xây dựng khung lý thuyết ban đầu. |
| Bước 2: Nghiên cứu sơ bộ |
Phân tích số liệu thứ cấp từ Vụ Quản lý KKT (Bộ KH&ĐT) và BQL KKT Nghi Sơn giai đoạn 2006–2015. |
Đánh giá thực trạng phát triển KKT Việt Nam và KKT Nghi Sơn. |
| Bước 3: Nghiên cứu định tính |
- Phỏng vấn chuyên gia phương pháp và cán bộ quản lý (Bộ KH&ĐT, UBND tỉnh Thanh Hóa, BQL KKT Nghi Sơn, Sở KH&ĐT, TT Xúc tiến đầu tư, UBND huyện Tĩnh Gia). - Phỏng vấn sâu lãnh đạo 15 doanh nghiệp (5 trong KKT, 5 ngoài KKT, 5 đã đăng ký nhưng không đầu tư). |
Hiệu chỉnh mô hình nghiên cứu, chuẩn hóa bảng câu hỏi và các biến quan sát. |
| Bước 4: Nghiên cứu định lượng |
- Khảo sát thử nghiệm trên 10 doanh nghiệp để hoàn thiện thuật ngữ. - Khảo sát chính thức 383 doanh nghiệp (thu về 212 phiếu hợp lệ) bằng hình thức trực tiếp, thư điện tử và trực tuyến. - Phân tích số liệu bằng SPSS và STATA. |
Kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA và ước lượng hồi quy Probit. |
| Bước 5: Thảo luận và kiến nghị |
Kết hợp kết quả định tính và định lượng để phân tích nguyên nhân. |
Đề xuất hệ thống giải pháp đối với doanh nghiệp, BQL KKT và cơ quan quản lý. |
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các văn bản quy phạm pháp luật (Nghị định 29/2008/NĐ-CP), báo cáo tổng kết của Vụ Quản lý KKT – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ban Quản lý KKT Nghi Sơn, Niên giám thống kê tỉnh Thanh Hóa, báo cáo chỉ số PCI giai đoạn 2006–2015.
- Dữ liệu sơ cấp: Thu thập từ 212 phiếu khảo sát hợp lệ của các nhà quản lý doanh nghiệp trong và ngoài KKT Nghi Sơn trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa từ tháng 8 đến tháng 11 năm 2016.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp vào khu kinh tế
Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận về mô hình khu kinh tế và cơ chế ra quyết định đầu tư:
- Tổng quan về KKT: Phân tích khái niệm SEZ theo UNIDO (2015), FIAS (2008), Chikatisrinu (2013), Amado (1989) và Nghị định 29/2008/NĐ-CP của Việt Nam. Luận án so sánh KKT Việt Nam với SEZ thế giới qua các tiêu thức: không gian địa lý, cơ sở hạ tầng, chính sách ưu đãi và cơ chế quản lý. Phân loại 5 dạng thức KKT thế giới (Đô thị quốc tế, SEZ, Khu thương mại tự do FTZ, Cảng tự do Free Port, Khu kinh tế mở) và 2 loại hình tại Việt Nam (KKT cửa khẩu và KKT ven biển). Khẳng định vai trò của KKT trong thu hút FDI, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, thử nghiệm chính sách và nâng cao năng lực công nghệ.
- Lý thuyết quyết định đầu tư: Tổng hợp các bước ra quyết định quản trị và phân tích quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư tương thích với hành vi mua hàng (mô hình 7 bước của Kostecki so với Kotler).
- Hệ thống hóa các nhân tố ảnh hưởng: Phân loại thành 2 nhóm:
- Nhân tố bên trong doanh nghiệp: Quy mô vốn, ngành nghề hoạt động, thị trường tiêu thụ/hoạt động xuất khẩu, loại hình sở hữu, đặc điểm nhân khẩu học của người đứng đầu (giới tính, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm).
- Nhân tố bên ngoài doanh nghiệp: Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội, vị trí địa lý, chính sách ưu đãi tài chính, chi phí đầu vào (thuê đất, nhân công, dịch vụ), chất lượng thể chế và thủ tục hành chính địa phương, môi trường sống cho chuyên gia/người lao động, hoạt động truyền thông xúc tiến đầu tư, và nguồn nhân lực sẵn có.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu, thiết kế thang đo và công cụ phân tích:
- Thiết kế nghiên cứu định tính: Quy trình tham vấn 2 nhóm chuyên gia và phỏng vấn sâu 15 nhà quản lý doanh nghiệp để xác định danh mục các biến quan sát phù hợp với bối cảnh KKT Nghi Sơn.
- Xây dựng thang đo: Thiết lập hệ thống bảng hỏi với thang đo Likert 5 mức độ cho các nhân tố bên ngoài và thang đo định danh/thứ bậc cho các biến đặc điểm bên trong doanh nghiệp:
- Thang đo đặc điểm doanh nghiệp và người quản lý (Bảng 2.4, 2.5).
- Thang đo cơ sở hạ tầng (Bảng 2.6), Vị trí địa lý (Bảng 2.7), Chính sách ưu đãi (Bảng 2.8), Chi phí đầu vào (Bảng 2.9), Thể chế địa phương (Bảng 2.10), Môi trường sống (Bảng 2.11), Truyền thông (Bảng 2.12), Nguồn nhân lực (Bảng 2.13).
- Mẫu và quy trình thu thập dữ liệu: Thiết kế phân bổ mẫu điều tra theo địa bàn và loại hình doanh nghiệp (Bảng 2.14, 2.15). Triển khai khảo sát thử nghiệm 10 doanh nghiệp, sau đó điều tra chính thức 383 doanh nghiệp, thu về 212 phiếu hợp lệ.
- Phương pháp phân tích dữ liệu: Kiểm định hệ số tin cậy Cronbach's Alpha (loại biến có tương quan biến - tổng nhỏ hơn 0,3), phân tích nhân tố khám phá EFA (tiêu chuẩn KMO > 0,5, kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê, Eigenvalue > 1, hệ số tải factor loading > 0,5), và ước lượng mô hình hồi quy Probit để lượng hóa xác suất đầu tư vào KKT.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới quyết định đầu tư của doanh nghiệp vào khu kinh tế
Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm về hiện trạng KKT và kiểm định mô hình định lượng:
- Thực trạng KKT Việt Nam và KKT Nghi Sơn: Đánh giá tình hình đầu tư hạ tầng, thu hút vốn và kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp trong hệ thống 16 KKT vận hành. Tại Nghi Sơn, lũy kế đến 2015 có 149 dự án đăng ký (16,8 tỷ USD), trong đó 74 dự án đã hoạt động. Tăng trưởng kinh tế tỉnh Thanh Hóa và chỉ số PCI giai đoạn 2007–2015 được phân tích để làm rõ bối cảnh thể chế địa phương.
- Phân tích thống kê mô tả mẫu nghiên cứu: Tổng hợp đặc điểm của 212 doanh nghiệp khảo sát về quy mô vốn, loại hình pháp lý, ngành nghề kinh doanh, tỷ lệ xuất khẩu, và đặc điểm nhân khẩu học của giám đốc điều hành (thời gian hoạt động, giới tính, học vấn).
- Kiểm định thang đo và phân tích nhân tố EFA: Kết quả kiểm định Cronbach's Alpha lần 2 và ma trận xoay nhân tố EFA khẳng định các thang đo đạt độ tin cậy và giá trị hội tụ, giá trị phân biệt theo yêu cầu thống kê.
- Kết quả hồi quy Probit và kiểm định giả thuyết:
- Nhóm nhân tố bên trong: Xác suất quyết định đầu tư vào KKT cao hơn có ý nghĩa thống kê ở các doanh nghiệp có quy mô vừa và lớn; thuộc các ngành công nghiệp nặng - khai khoáng, xử lý nước/rác thải, dịch vụ vận tải - cảng biển; doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI); và doanh nghiệp có người lãnh đạo là nam giới, trình độ học vấn từ đại học trở lên.
- Nhóm nhân tố bên ngoài: Mức độ tác động tích cực cùng chiều đến quyết định đầu tư được xếp theo thứ tự giảm dần: (1) Chi phí đầu vào cạnh tranh; (2) Chính sách ưu đãi; (3) Thể chế địa phương; (4) Vị trí địa lý.
- Nhân tố không có ý nghĩa phân biệt: Cơ sở hạ tầng và Nguồn nhân lực chưa tạo ra sự khác biệt đủ lớn giữa bên trong và bên ngoài KKT trong mẫu khảo sát.
- Nhân tố mang hệ số âm: Truyền thông và Môi trường sống có hệ số tác động ngược chiều, phản ánh thực tế doanh nghiệp đánh giá chất lượng các dịch vụ sống và công tác quảng bá tại KKT Nghi Sơn còn nhiều bất cập, chưa tạo được lực hút đầu tư.
Chương 4: Một số giải pháp thu hút doanh nghiệp đầu tư vào khu kinh tế Việt Nam
Chương 4 đề xuất các nhóm giải pháp xuất phát từ mục tiêu phát triển giai đoạn 2016–2020 của KKT Việt Nam và KKT Nghi Sơn:
- Căn cứ định hướng: Bám sát các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa và quy hoạch mở rộng KKT Nghi Sơn lên 106.000 ha.
- Nhóm giải pháp đối với doanh nghiệp: Tận dụng lợi thế hạ tầng cảng nước sâu và vị trí địa lý; thành lập Hiệp hội doanh nghiệp KKT Nghi Sơn nhằm chia sẻ thông tin và hỗ trợ pháp lý; hình thành cụm liên kết ngành giữa các doanh nghiệp sản xuất phụ trợ với các dự án hạt nhân (như Lọc hóa dầu Nghi Sơn).
- Nhóm giải pháp đối với Ban quản lý KKT: Xác định rõ phân khúc khách hàng mục tiêu dựa trên mô hình Probit; xây dựng mô hình quản lý phát triển đặc thù phù hợp tiềm năng cảng biển; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính "một cửa tại chỗ"; nâng cao chất lượng hoạt động xúc tiến, truyền thông và quảng bá hình ảnh KKT.
- Nhóm giải pháp hoàn thiện điều kiện môi trường đầu tư: Đề xuất Trung ương hoàn thiện khung pháp lý đồng bộ cho KKT ven biển, nghiên cứu cơ chế phân cấp phân quyền mạnh hơn; đa dạng hóa nguồn vốn (PPP, BOT) để hoàn thiện kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội; đầu tư hệ thống đào tạo nghề đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của doanh nghiệp.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt học thuật và lý luận
- Phát triển lý thuyết marketing địa phương: Vận dụng lý thuyết marketing địa phương (Kotler, 2002) vào lĩnh vực quản lý và phát triển KKT ven biển tại một quốc gia đang phát triển, chuyển hóa các khái niệm marketing địa phương thành các nhóm biến đo lường cụ thể phù hợp với môi trường đầu tư Việt Nam.
- Xác lập khung phân tích hai nhóm nhân tố: Xây dựng mô hình nghiên cứu tích hợp đồng thời 2 nhóm nhân tố: bên trong doanh nghiệp (quy mô, ngành nghề, sở hữu, xuất khẩu, đặc điểm lãnh đạo) và bên ngoài doanh nghiệp (vị trí địa lý, hạ tầng, chính sách ưu đãi, chi phí đầu vào, thể chế địa phương, môi trường sống, truyền thông, nguồn nhân lực).
- Khám phá quy luật tương thích đặc điểm: Chứng minh bằng thực nghiệm rằng quyết định đầu tư vào KKT phụ thuộc vào mức độ tương thích giữa đặc trưng mô hình KKT với đặc thù nội tại của doanh nghiệp, giúp làm rõ khái niệm "khách hàng mục tiêu" của KKT.
Phát hiện thực nghiệm và đề xuất thực tiễn
- Chân dung khách hàng mục tiêu của KKT: Kết quả hồi quy Probit chỉ ra nhóm doanh nghiệp có xác suất đầu tư vào KKT cao nhất là doanh nghiệp quy mô vừa và lớn; hoạt động trong các ngành công nghiệp nặng, khai khoáng, cung cấp và xử lý nước/chất thải, dịch vụ vận tải và cảng biển; doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu; doanh nghiệp FDI; người đứng đầu là nam giới có trình độ từ đại học trở lên.
- Xác định thứ bậc tác động của các nhân tố bên ngoài: Lượng hóa mức độ ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài theo thứ tự ưu tiên:
- Chi phí đầu vào cạnh tranh (tác động mạnh nhất).
- Chính sách ưu đãi đầu tư.
- Thể chế địa phương và thủ tục hành chính.
- Vị trí địa lý.
- Phát hiện các điểm nghẽn thực tế:
- Cơ sở hạ tầng và Nguồn nhân lực bên trong KKT chưa tạo được sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với bên ngoài KKT.
- Truyền thông xúc tiến và Môi trường sống đang bị doanh nghiệp đánh giá thấp, có tác động ngược chiều đến quyết định đầu tư, đòi hỏi địa phương phải ưu tiên cải thiện các yếu tố này.
- Hệ thống giải pháp 3 cấp độ: Đề xuất đồng bộ các nhóm giải pháp từ cấp độ doanh nghiệp (liên kết ngành, hiệp hội), cấp độ Ban Quản lý KKT (xúc tiến trúng đích, cải cách hành chính) đến cấp độ chính sách vĩ mô (hoàn thiện khung thể chế, đa dạng hóa vốn đầu tư hạ tầng, phát triển nhân lực).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án (được tác giả nêu tại mục 4.3):
- Phạm vi không gian mẫu khảo sát: Nghiên cứu định lượng chỉ tiến hành thu thập dữ liệu sơ cấp từ các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa (đầu tư vào KKT Nghi Sơn và các doanh nghiệp ngoài KKT trong tỉnh), chưa mở rộng điều tra so sánh chéo với các KKT ven biển khác trên toàn quốc.
- Tính chất dữ liệu: Số liệu sơ cấp được thu thập tại một thời điểm (dữ liệu cắt ngang từ tháng 8 đến tháng 11 năm 2016), chưa phản ánh được sự biến động động thái theo chuỗi thời gian dài hạn của hành vi đầu tư khi chính sách thay đổi.
- Giới hạn loại hình KKT: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu mô hình KKT ven biển, chưa khảo sát đối chứng với mô hình KKT cửa khẩu hoặc các khu công nghệ cao.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi khảo sát sang nhiều KKT ven biển thuộc các vùng kinh tế trọng điểm khác nhau (miền Bắc, miền Trung, miền Nam) để kiểm định tính khái quát hóa của mô hình.
- Thực hiện các nghiên cứu theo dõi dọc (longitudinal study) nhằm đánh giá sự thay đổi trong quyết định đầu tư của doanh nghiệp qua các giai đoạn hoàn thiện hạ tầng của KKT.
- Bổ sung các biến quan sát về tác động môi trường sinh thái và liên kết chuỗi giá trị toàn cầu trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kinh tế, Quản trị kinh doanh, Quản lý kinh tế: Tham khảo phương pháp tiếp cận marketing địa phương kết hợp với lý thuyết lựa chọn tối ưu; quy trình thiết kế bảng hỏi khảo sát doanh nghiệp; kỹ thuật kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA và ứng dụng mô hình hồi quy Probit để xử lý biến phụ thuộc nhị phân trong nghiên cứu hành vi kinh tế.
- Ban Quản lý KKT Nghi Sơn và Ban Quản lý các KKT ven biển Việt Nam: Sử dụng kết quả nhận diện chân dung khách hàng mục tiêu để điều chỉnh chiến lược xúc tiến đầu tư trúng đích; ưu tiên thu hút các doanh nghiệp quy mô vừa và lớn, các ngành công nghiệp nặng, dịch vụ cảng biển và xuất khẩu thay vì thu hút dàn trải.
- Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa và chính quyền các địa phương có KKT: Làm căn cứ thực tiễn để tập trung nguồn lực cải thiện môi trường sống (nhà ở công nhân, tiện ích dịch vụ cho chuyên gia), nâng cao chất lượng truyền thông quảng bá và tiếp tục tinh giản thủ tục hành chính địa phương.
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các cơ quan hoạch định chính sách Trung ương: Tham khảo cơ sở thực nghiệm để rà soát, sửa đổi khung chính sách ưu đãi KKT, chuyển dịch trọng tâm từ ưu đãi thuế đơn thuần sang hỗ trợ giảm thiểu chi phí đầu vào và hoàn thiện hạ tầng kết nối.
Câu hỏi thường gặp
1. Những nhân tố bên ngoài nào có tác động cùng chiều đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp vào KKT theo kết quả nghiên cứu?
Theo kết quả ước lượng mô hình hồi quy Probit trong luận án, có 4 nhóm nhân tố bên ngoài tác động tích cực cùng chiều đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp, xếp theo thứ tự mức độ ảnh hưởng giảm dần là:
- Chi phí đầu vào cạnh tranh (tác động mạnh nhất).
- Chính sách ưu đãi đầu tư.
- Thể chế địa phương và thủ tục hành chính.
- Vị trí địa lý của KKT.
2. Doanh nghiệp có đặc điểm như thế nào sẽ có xác suất đầu tư cao vào Khu kinh tế Nghi Sơn?
Kết quả thực nghiệm xác định chân dung nhóm doanh nghiệp mục tiêu có xác suất lựa chọn đầu tư vào KKT Nghi Sơn cao hơn rõ rệt gồm:
- Quy mô doanh nghiệp: Vừa và lớn.
- Ngành nghề kinh doanh: Trọng tâm là công nghiệp nặng, khai khoáng; cung cấp và xử lý nước, rác thải; dịch vụ vận tải, cảng biển và hàng hải.
- Thị trường hoạt động: Doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu.
- Loại hình sở hữu: Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
- Đặc điểm người lãnh đạo: Giám đốc điều hành là nam giới, có trình độ học vấn từ đại học trở lên.
3. Tại sao hai nhân tố Truyền thông và Môi trường sống lại nhận hệ số hồi quy mang dấu âm trong mô hình thực nghiệm?
Hệ số hồi quy mang dấu âm phản ánh thực trạng đánh giá của các doanh nghiệp khảo sát:
- Công tác truyền thông, quảng bá thương hiệu của KKT Nghi Sơn còn hạn chế, thông tin chưa tiếp cận hiệu quả đến cộng đồng doanh nghiệp.
- Môi trường sống (tiện ích xã hội, dịch vụ y tế, giáo dục, giải trí, nhà ở cho chuyên gia và người lao động) tại địa bàn KKT chưa phát triển đồng bộ, chưa đáp ứng kỳ vọng.
Do đó, các yếu tố này chưa tạo ra sức hút tích cực, thậm chí gây tâm lý e ngại cho nhà đầu tư khi cân nhắc đặt cơ sở sản xuất tại KKT.
4. Quy mô mẫu và phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp của luận án được thực hiện ra sao?
Luận án tiến hành phát 383 phiếu khảo sát và thu về 212 phiếu hợp lệ từ đại diện lãnh đạo các doanh nghiệp (Giám đốc, Phó Giám đốc, Trưởng phòng đầu tư) trong và ngoài KKT trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Quá trình thu thập dữ liệu diễn ra từ tháng 8 đến tháng 11 năm 2016, kết hợp linh hoạt giữa hình thức phỏng vấn trực tiếp, gửi bảng hỏi qua bưu điện, thư điện tử và biểu mẫu khảo sát trực tuyến. Trước đó, tác giả đã thực hiện phỏng vấn sâu 15 doanh nghiệp và khảo sát thử nghiệm trên 10 doanh nghiệp để hoàn thiện bảng hỏi.
5. Luận án giải thích thế nào về việc nhân tố Cơ sở hạ tầng và Nguồn nhân lực chưa thể hiện tác động có ý nghĩa thống kê đến quyết định đầu tư?
Kết quả kiểm định thực nghiệm cho thấy sự đánh giá của các doanh nghiệp về Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và Nguồn nhân lực giữa khu vực bên trong KKT và bên ngoài KKT trên địa bàn khảo sát không có sự khác biệt đủ lớn. Hạ tầng KKT Nghi Sơn trong giai đoạn nghiên cứu vẫn đang trong quá trình xây dựng, hoàn thiện; đồng thời chất lượng nguồn nhân lực tại địa phương nhìn chung chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu kỹ thuật cao, dẫn đến việc hai nhân tố này chưa tạo thành yếu tố phân định rõ rệt thúc đẩy quyết định đầu tư vào KKT so với các địa bàn khác trong tỉnh.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Lê Thị Lan đã giải quyết một vấn đề khoa học và thực tiễn trong lĩnh vực quản lý kinh tế và xúc tiến đầu tư tại Việt Nam thông qua việc lượng hóa các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư vào KKT ven biển. Bằng việc kết hợp lý thuyết marketing địa phương, mô hình OLI và lý thuyết lựa chọn tối ưu, tác giả đã xây dựng mô hình hồi quy Probit trên bộ dữ liệu 212 doanh nghiệp khảo sát tại KKT Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Kết quả nghiên cứu làm rõ vai trò quyết định của chi phí đầu vào, chính sách ưu đãi, thể chế địa phương và sự phù hợp về quy mô, ngành nghề của doanh nghiệp mục tiêu, đồng thời chỉ ra các điểm nghẽn về môi trường sống và truyền thông quảng bá. Đây là công trình cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm và phương pháp luận giá trị cho các nhà nghiên cứu, chính quyền địa phương và các nhà hoạch định chính sách trong việc nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư vào hệ thống khu kinh tế Việt Nam.