CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP VÀO KHU KINH TẾ 1.1 Tổng quan về Khu kinh tế 1.1 Khái niệm và đặc trưng của Khu kinh tế Khu kinh tế có nhiều cách gọi theo các thuật ngữ khác nhau, có thể gọi là đặc khu kinh tế (special economic zones -SEZ), khu kinh tế mở (Open economic zones - EZ), khu thương mại tự do (Free trade zones- FTZ), khu kinh tế tự do hay thậm chí đơn giản chỉ là khu tự do (Free zones). Có những khu kinh tế có thể không mang tên gọi chính thức như một trong các tên gọi trên, nhưng vẫn có quy chế hoạt động như một khu kinh tế tự do. Tuy nhiên, cho dù với tên gọi nào đi nữa thì mọi khu kinh tế đều mong muốn tăng cường thu hút đầu tư trong và ngoài nước bằng các biện pháp khuyến khích đặc biệt (Chikatisrinu, 2013). Không phụ thuộc vào hình thức và tên gọi, khu kinh tế thực chất là một loại hình kinh tế mà ở đấy tùy vào mối quan tâm và khả năng mà nhà nước áp dụng các thiết chế đặc biệt nhằm theo đuổi các mục tiêu nhất định.
Theo Tổ chức công nghiệp liên hợp quốc (UNIDO) đặc khu kinh tế (special economic zones –SEZ) là “Một bất động sản được hợp pháp hóa bởi các luật thương mại như thuế quan, hạn ngạch, hoặc các nghĩa vụ khác với phần còn lại của đất nước” (UNIDO, 2015, tr12) Cùng quan điểm này đơn vị tư vấn môi trường đầu tư của ngân hàng thế giới (FIAS, 2008, tr11) cho rằng: “Đặc khu kinh tế nói chung được định nghĩa là khu vực địa lý phân biệt- quản lý bởi một cơ thể duy nhất, cung cấp các ưu đãi nhất định (thường nhập khẩu miễn thuế và hải quan sắp xếp hợp lý các thủ tục, .) cho các doanh nghiệp trong khu” Từ thực tế hoạt động của các KKT Ấn Độ, Chikatisrinu (2013, tr86) đã đưa ra khái niệm ngắn gọn: “Khu kinh tế là một khu vực địa lý mà có luật lệ kinh tế có nhiều tự do hơn so với hệ thống pháp luật chung của quốc gia”. Một nghiên cứu khác về các KKT trên thế giới đã được thực hiện trước đó khá lâu của Amado (1989) đã xây dựng khái niệm các KKT hiện đại dựa trên cơ sở sự phát triển của các khu thương mại tự do (Free trade zones): “KKT là mô hình 11 sản xuất kết hợp với các kỹ thuật công nghiệp, cung cấp một cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất để thu hút các nhà đầu trong nước và nước ngoài” Amado (1989, tr13) Mô hình Khu kinh tế gắn liền với việc thử nghiệm các cơ chế chính sách mới nhằm hoàn thiện môi trường đầu tư của nhiều nước trên thế giới. KKT được xem là một công cụ phát triển năng lực thương mại, với mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh chóng bằng cách sử dụng các ưu đãi về thuế và kinh doanh để thu hút đầu tư và công nghệ nước ngoài, theo UNIDO (2015) ở các quốc gia các khác nhau, các KKT có các đặc điểm khác nhau, tuy nhiên các Khu kinh tế đều có các đặc điểm chung như sau: Có cơ sở hạ tầng công cộng và cơ sở vật chất (các tiện ích kết nối, đường) hiện đại để khuyến khích sự đầu tư của các doanh nghiệp; Có phạm vi địa lý xác định; Có các ưu đãi hoặc hỗ trợ tài chính nhằm khuyến khích sự phát triển của các doanh nghiệp; Có cơ chế quản lý riêng cho khu do chính phủ sở hữu hoặc thuê của chính phủ. Từ nghiên cứu hoạt động thực tế của các KKT trên thế giới, FIAS (2008) cũng cho rằng để thành công các KKT phải đảm bảo các nguyên tắc: - Các doanh nghiệp hoạt động trong KKT theo một cơ chế khác với phần còn lại của quốc gia.
- Chế độ hoạt động của KKT được đảm bảo linh hoạt nhằm thúc đẩy các hoạt động thương mại cũng như các hoạt động sản xuất. - Các KKT sẽ thúc đẩy phát triển tư nhân hơn chứ không phải là khu vực kinh tế nhà nước. - Xây dựng một khuôn khổ pháp lý, quy định và thể chế phù hợp để đảm bảo quy định và thuận lợi đầy đủ. Từ các phân tích ở trên, theo quan điểm của tác giả “Khu kinh tế là một không gian kinh tế riêng biệt với phần còn lại của quốc gia với cơ sở hạ tầng và các cơ chế quản lý thuận lợi cho sự phát triển của các doanh nghiệp”.
Ở Việt Nam, Nghị định số 29/2008/NĐ-CP qui định “Khu kinh tế là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận 12 lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của Chính phủ”. Khu kinh tế ở Việt Nam là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt, với môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi và bình đẳng, có các công trình hạ công nghiệp và hạ tầng xã hội hiện đại. Các KKT với các chính sách ưu đãi, khuyến khích, cùng với cơ chế quản lý thông thoáng tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài. Theo quy định của chính phủ Việt Nam, một khu kinh tế phải có diện tích tối thiểu là 10 ngàn hecta (100 km²)(Chính phủ, 2008).1: So sánh KKT Việt Nam với các đặc khu kinh tế của thế giới Tiêu thức Special economic zones –SEZ Khu kinh tế Việt Nam (theo UNIDO, 2015) (theo Chính phủ, 2008) Không gian Phạm vi địa lý xác định Phạm vi địa lý xác định với không gian kinh tế riêng biệt.
Cơ sở hạ tầng Có cơ sở hạ tầng công cộng và cơ sở Cơ sở hạ tầng hiện đại. vật chất (các tiện ích kết nối, đường) hiện đại để khuyến khích sự đầu tư của các doanh nghiệp Chính sách ưu Có các ưu đãi hoặc hỗ trợ tài chính Chế độ ưu đãi cao nhất trong đãi nhằm khuyến khích sự phát triển của khung ưu đãi để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư Cơ chế quản Có cơ chế quản lý riêng cho khu do Có Ban quản lý KKT riêng và lý chính phủ sở hữu hoặc thuê của chịu sự quản lý của Bộ KHĐT và chính phủ Chính quyền các địa phương Nguồn: Tác giả tổng hợp Như vậy, về cơ bản các Khu kinh tế ở Việt Nam cũng có các đặc trưng của KKT trên thế giới. Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng của các KKT Việt Nam còn đang trong giai đoạn xây dựng nên vẫn còn nhiều hạn chế. Bên cạnh đó, Việt Nam vẫn chưa thực sự có một đặc khu kinh tế đúng nghĩa với cơ chế quản lý riêng mà vẫn chịu sự quản lý của các cấp quản lý khác nhau.2 Các mô hình khu kinh tế Các khu vực lãnh thổ kinh tế (Economic zone -EZ) được định nghĩa là một khu vực địa lý cung cấp lợi thế phi tiền tệ và/hoặc tiền tệ cho các doanh nghiệp nằm 13 trong khu vực của mình, nhằm mục đích là để thúc đẩy sự phát triển kinh tế để tạo ra các lợi thế cạnh tranh của một quốc gia, một khu vực, hoặc một khu vực đô thị (UNIDO, 2015) Theo Tổ chức công nghiệp liên hợp quốc có 5 loại hình khu vực lãnh thổ kinh tế (EZ) và được sắp xếp theo trình tự của sự phát triển, đó là: Khu công nghiệp (IP), đặc khu kinh tế (SEZ), Công viên sinh thái công nghiệp (EIP), Khu Công nghệ (TP), và Đô thị đổi mới (ID).
Như vậy mô hình đặc khu kinh tế là giai đoạn phát triển thứ 2 của các loại lãnh thổ kinh tế. Các giai Khu Đô thị đoạn Khu công công đổi mới phát nghệ triển nghiệp cao Đặc khu sinh thái của Khu kinh tế EZ công nghiệp Các mô hình KKT Hình 1.1: Các giai đoạn phát triển của KKT Nguồn: UNIDO, 2015 Đặc khu kinh tế (SEZ) là một thuật ngữ chung bao gồm khu thương mại tự do (FTZ), Khu chế xuất (EPZ), Khu kinh tế (SEZ), và cảng tự do (FPS) (UNIDO, 2015). Đặc khu kinh tế (Special Economic Zone- SEZ): “SEZ là khu vực địa lý được hợp pháp hóa bằng các luật thương mại như thuế quan, hạn ngạch, hoặc các nghĩa vụ khác với phần còn lại của đất nước” (UNIDO, 2015). Ban đầu, các đặc khu kinh tế được hiểu như khu vực tự do, đã tồn tại trong thương mại quốc tế khoảng 2.500 năm ở Trung Quốc cổ đại, sau đó là trong đế 14 quốc La Mã (World Bank, 1992).
Đặc khu kinh tế là mô hình hiện đại trên cơ sở sự phát triển của cảng tự do (FPS). Cảng tự do là một địa điểm trung chuyển thương mại giữa các thương nhân quốc tế. Cảng tự do lâu đời nhất được thành lập trong hải cảng Roman để thúc đẩy sự phát triển của thương mại quốc tế (Amado, 1989). Các cảng tự do cũng được thiết lập trên các tuyến thương mại quốc tế như Gibraltar (1704), Singapore (1819) và Hồng Kông (1848).
Năm 1888, Hamburg trở thành cảng đầu tiên được cấp đặc quyền đặc biệt của sản xuất, với điều kiện là nó không cạnh tranh được với các vùng nội địa và vẫn định hướng xuất khẩu (Amado,1989). Khu kinh tế hiện đại đầu tiên được thành lập ở Shannon, Ireland, năm 1959 (FIAS, 2008). Shannon là vùng miễn phí nằm gần sân bay, là khu kinh tế đầu tiên được tạo ra với mục đích chính là sản xuất các sản phẩm định hướng xuất khẩu. Mô hình Shannon Free Zone đã ngay lập tức được mở rộng và trở thành chiến lược phát triển kinh tế của Puerto Rico và Tây Ban Nha vào năm 1960 (World Bank, 1992).
Khái niệm đặc khu kinh tế cũng sớm được nghiên cứu ở các nước đang phát triển bởi các tổ chức như UNIDO (Tổ chức công nghiệp liên hợp quốc), UNCTAD (Hội nghị Liên hiệp quốc về Thương mại và Phát triển), và các tổ chức của Nhật Bản (Amado, 1989). Trong những năm 1980, UNIDO đã thông qua một nghị quyết khuyến khích các nước phát triển thiết lập và tăng cường các chính sách thúc đẩy sự phát triển các ngành công nghiệp cho các nước đang phát triển (Amado, 1989). Việc di dời các hoạt động công nghiệp đến nước đang phát triển, thúc đẩy bởi quá trình toàn cầu hóa, liên quan đến sự phân mảnh của chuỗi giá trị toàn cầu và hội nhập theo chiều dọc, được thực hiện trong phần lớn tại các ngành công nghiệp nằm trong đặc khu kinh tế (Amado, 1989). Trong những năm 1960, nhiều nước đang phát triển đã bắt đầu chuyển dịch hướng phát triển kinh tế của họ, từ chiến lược thay thế nhập khẩu tới chiến lược tăng trưởng định hướng xuất khẩu.