CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN 1. CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN VÀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN ĐỐI VỚI VIỆC ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN 1. Chính sách kế toán Chính sách kế toán của doanh nghiệp là những nguyên tắc, cơ sở và các phương pháp kế toán cụ thể được doanh nghiệp áp dụng trong quá trình lập và trình bày báo cáo tài chính. CSKT có 3 đặc trưng cơ bản: · CSKT là những nguyên tắc: Kế toán phải tuân thủ các nguyên tắc kế toán khi lập báo cáo.
Đây là những nguyên tắc chung mà tất cả moi doanh nghiệp phải áp dụng, như nguyên tắc kỳ kế toán, nguyên tắc phù hợp, nguyên tắc giá gốc, cơ sở dồn tích. · CSKT là những lựa chọn: chuẩn mực kế toán cho phép doanh nghiệp có thể lựa chọn các phương pháp kế toán khác nhau cho phù hợp với đặc điểm và mục tiêu của doanh nghiệp. Việc lựa chọn và áp dụng các phương pháp khác nhau trong một chính sách kế toán sẽ làm thay đổi thông tin trình bày trên báo cáo tài chính hay thông tin cung cấp ra bên ngoài. · CSKT là ước tính kế toán: Ước tính kế toán là các nguyên tắc đo lường đối tượng kế toán mà công ty tự xây dựng do chuẩn mực không thế bao quát hóa mọi vấn đề phát sinh ở các đơn vị cơ sở.
Lựa chọn chính sách kế toán là việc chọn lựa có cân nhắc nằm trong khuôn khổ của chuẩn mực kế toán về các nguyên tắc, cơ sở và các phương 8 pháp kế toán mà doanh nghiệp có thể áp dụng trong các trường hợp khác nhau nhằm phục vụ cho mục đích chủ quan của nhà quản trị. Các chính sách kế toán của doanh nghiệp phân thành các loại sau: a. Chính sách kế toán ghi nhận doanh thu Doanh thu là một chỉ tiêu quan trọng của doanh nghiệp và được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp, bởi lẽ doanh thu chính là nguồn tiềm năng đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Tuy nhiên các nhà đầu tư cần hiểu rằng theo nguyên tắc kế toán doanh thu được ghi nhận khi lợi nhuận và chi phí của doanh nghiệp được ghi nhận và xác định.
Điều này có nghĩa là nguyên tắc kế toán không yêu cầu doanh thu được ghi nhận trùng với thời điểm tiền mặt được chi trả. Do đó Công ty có thể thổi phồng hoặc làm giảm lợi nhuận của mình bằng cách ghi nhận doanh thu sớm hơn hay muộn hơn thời điểm thực tế. Có bốn tiêu chí để doanh thu có thể được ghi nhận như sau: · Có bằng chứng rõ ràng về thỏa thuận mua bán giữa bên khách hàng và bên Công ty cung cấp sản phẩm hay dịch vụ. · Sản phẩm, dịch vụ của Công ty đã được chuyển giao cho khách hàng.
· Giá cả sản phẩm, dịch vụ đã được xác định · Công ty cung cấp sản phẩm dịch vụ có thể tương đối chắc chắn về khả năng thu tiền thanh toán từ khách hàng Doanh thu thường được ghi nhận khi sản phẩm hoặc dịch vụ đã được chuyển giao đầy đủ cho khách hàng. Tuy nhiên đối với các hợp đồng cung cấp sản phẩm, dịch vụ dài hạn doanh thu có thể được ghi nhận từng phần 9 trước khi việc chuyển giao toàn bộ sản phẩm được hoàn tất hoặc ghi nhận một lúc sau khi việc chuyển giao sản phẩm đã hoàn tất. Chính sách kế toán về TSCĐ TSCĐ thường là bộ phận chủ yếu trong tổng tài sản và đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện tình hình tài chính của doanh nghiệp. Vì vậy, việc xác định một tài sản có được ghi nhận là TSCĐ hay là một khoản chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ sẽ có ảnh hưởng đáng kể đến báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Chính sách ghi nhận TSCĐ · Đối với TSCĐ hữu hình Để ghi nhận là TSCĐ hữu hình đơn vị phải xác định mực độ chắc chắn của viêc thu được lợi ích kinh tế trong tương lai dựa trên các bằng chứng hiện có tại thời điểm ghi nhận ban đầu và phải chịu mọi rủi ro liên quan. Khi xác định các bộ phận cấu thành TSCĐ hữu hính, doanh nghiệp phải áp dụng các tiêu chuẩn TSCĐ hữu hình cho từng trường hợp cụ thể. Doanh nghiệp có thể hợp nhất các bộ phận riêng biệt không chủ yếu như: khuôn đúc, công cụ, khuôn dập, và áp dụng các tiêu chuẩn TSCĐ hữu hình và tổng giá trị đó. Các phụ tùng và thiết bị phụ trợ thường được coi là tài sản lưu động và được hạch toán vào chi phí khi sử dung.
Các phụ tùng chủ yếu và các thiết bị bảo trì được xác định là TSCĐ hữu hình khi doanh nghiệp ước tính thời gian sử dụng chúng nhiều hơn một năm. Nếu phụ tùng và thiết bị bảo trì chỉ đươc dung gắn liền với TSCĐ hữu hình và việc sử dụng chúng là không thường xuyên thì chúng trong thời gian ít hơn thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ hữu hình liên quan. 10 Trong từng trường hợp cụ thể, có thể phân bổ tổng chi phí của tài sản cho bộ phận cấu thành của nó và hạch toán riêng biệt cho mỗi bộ phận cấu thành. Trường hợp này được áp dụng khi từng bộ phận cấu thành tài sản có thời gian sử dụng hữu ích khác nhau, hoăc góp phần tạo ra lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp theo những tiêu chuẩn quy định khác nhau nên được sử dụng các tỷ lệ và các phương pháp khấu hao khác nhau.
· Đối với TSCĐ vô hình Doanh nghiệp cần phân biệt các chi phí ban đầu liên quan đến TSCĐ vô hình, chi phí nào được ghi tăng nguyên giá, chi phí nào ghi tăng chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ. Việc phân biệt này ảnh hưởng đến chi phí phát sinh trong kỳ, từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ của doanh nghiệp có thể làm cho lợi nhuận trong kỳ của doanh nghiệp tăng lên hoặc giảm đi. Ngoài những chi phí phát sinh liên quan trực tiếp từ khâu thiết kế, triển khai, xây dựng đến khâu chuẩn bị đưa tài sản vào trạng thái sử dụng được ghi nhận vào nguyên giá TSCĐ. Trong đó, chi phí của giai đoạn triển khai được ghi nhận là TSCĐ vô hình nếu thỏa mãn 7 điều kiện: - Tính khả thi về mặt kỹ thuật đảm bảo cho việc hoàn thành và đưa tài sản vô hình vào sử dụng theo dự tính hoặc để bán; - Doanh nghiệp có khả năng sử dụng hoặc bán tài sản vô hình đó; - Tài sản vô hình đó phải tạo ra được lợi ích kinh tế trong tương lai - Có đầy đủ cac nguồn lực về kỹ thuật, tài chính và các nguồn lực khác để hoàn tất các giai đoạn triển khai, bán hoặc sử dụng tài sản vô hình đó; - Có khả năng xác định một cách chắc chắn toàn bộ chi phí trong giai đoạn triển khai để tạo ra tài sản vô hình đó.
11 Trong 7 điều kiện để ghi nhận chi phí giai đoạn triển khai vào nguyên giá TSCĐ vô hình, tùy thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà quản trị, có thể lựa chọn thỏa mãn 7 điều kiện này. Hoặc không thỏa mãn 1 trong 7 điều kiện này, nhưng nếu không thỏa mãn 1 trong 7 điều kiện trên thì toàn bộ chi phí phát sinh trong giai đoạn này được ghi nhận vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định lợi nhuận của doanh nghiệp. Các chi phí khác phát sinh đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệ nhưng không được ghi nhận vào nguyên giá TSCĐ vô hình thì được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ.
Bao gồm: chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí đào tạo nhân viên, chi phí quảng cáo phát sinh trong giai đoạn trước hoạt động của doanh nghiệp mới thành lập, chi phí cho giai đoạn nghiên cứu, chi phí chuyển dịch địa điểm được ghi nhận vào chi phí sản xuấ, kinh doanh trong thời gian tối đa không quá 3 năm. Đối với các khoản chi phí đã đươc doanh nghiệp ghi nhận là chi phí để xác định kết quả kinh doanh trong kỳ trước đó thì không đươc tái ghi nhận vào nguyên giá TSCĐ vô hình. Chính sách khấu hao TSCĐ Khấu hao là việc định giá, tính toán, phân bổ một cách có hệ thống giá trị của tài sản do sự hao mòn tài sản sau một khoảng thời gian sử dụng. Khấu hao tài sản cố định được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh trong suốt thời gian sử dụng tài sản cố định.
Khấu hao tài sản cố định liên quan đến việc hao mòn tài sản, đó là sự giảm dần về giá trị và giá trị sử dụng do tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, do hao mòn tự nhiên hoặc do tiến bộ khoa học công nghệ. 12 Các phương pháp tính khấu hao: · Khấu hao theo đường thẳng: Phương pháp khấu hao theo đường thẳng là phương pháp tính khấu hao trong đó định mức khấu hao tài sản cố định là như nhau trong suốt thời gian sử dụng. Ví dụ, một tài sản cố định có giá trị 1,2 tỉ đồng, thời gian sử dụng là 6 năm, khấu hao hết giá trị trong thời gian sử dụng. Giá trị khấu hao theo từng năm sẽ bằng nhau là 200 triệu/năm.
· Khấu hao theo số dư giảm dần: Khấu hao được tính theo công thức: Giá trị khấu hao hàng năm bằng nguyên giá của tài sản tại năm tính khấu hao nhân với tỉ lệ khấu hao. Chính sách về sửa chữa TSCĐ Có thể thực hiện kế hoạch sản xuất đúng thời hạn và sử dụng tối ưu nguyên vật liệu ngay từ khi lập kế hoạch chất lượng hỗ trợ kỹ thuật và sửa chữa TSCĐ của doanh nghiệp. Khi sử dụng các tính năng của phân hệ quản lý sửa chữa, doanh nghiệp có thể lập kế hoạch và kế toán các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật và sửa chữa thiết bị: (1) lập cơ sở định mức đối với việc bảo dưỡng TSCĐ; (2) lập kế hoạch bảo dưỡng TSCĐ và nguyên vật liệu để thực hiện; (3) tính toán các kết quả bảo dưỡng TSCĐ; (4) phân tích sai lệch theo thời hạn và khối lượng bảo dưỡng TSCĐ.