phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm có 4 chƣơng. Chƣơng 1: Chính sách cổ tức và các nhân tố tác động đến chính sách cổ tức. Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu. Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu.
Chƣơng 4: Thảo luận kết quả và hàm ý chính sách. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Mặc dù có rất nhiều nghiên cứu của các học giả khác nhau đã tiến hành các cuộc khảo sát nhằm tìm ra các yếu tố quyết định chính sách cổ tức của doanh nghiệp nhƣng tất cả vẫn chƣa đi đến một kết quả chung. Những nỗ lực sớm nhất để giải thích hành vi cổ tức của các công ty đã đƣợc John Lintner thực hiện năm 1956, ông cố gắng phát triển một mô hình toán học nhỏ gọn để mô tả quá trình ra quyết định chia cổ tức. Dt = β0 + β1Pt + β2Dt-1 + et với Dt và Dt-1 là cổ tức chi trả năm t và t-1, Pt là lợi nhuận sau thuế năm t.
Dựa trên những thử nghiệm đƣợc thực hiện, ông phát hiện ra rằng một phần trong mô hình của ông giải thích đƣợc khoảng 85% cổ tức thay đổi từng 5 năm. Dựa trên những khảo sát bổ sung, ông tìm thấy rằng mô hình có thể đƣợc sử dụng trong thời gian dài, không chỉ trong giai đoạn mà ông đã sử dụng để xây dựng mô hình. Lintner (1956) phát hiện ra các công ty Mỹ duy trì tỷ lệ chi trả cổ tức mục tiêu và điều chỉnh chính sách cổ tức của mình để đạt mục tiêu này. Các công ty theo đuổi một chính sách cổ tức ổn định và có xu hƣớng tăng tỷ lệ chi trả cổ tức.
Những phát hiện này cho thấy rằng các công ty thiết lập cổ tức của họ phù hợp với thu nhập hiện tại cũng nhƣ cổ tức của năm trƣớc. Lintner chỉ ra rằng các nhà quản lý tin rằng các nhà đầu tƣ thích các công ty có chính sách cổ tức ổn định và nhà quản lý chỉ tăng cổ tức khi lợi nhuận tăng liên tục. Mô hình Lintner - 1956 đã đƣợc áp dụng ở một số thị trƣờng phát triển khác nhƣ Canada, Úc, Pháp, Anh, và Tây Đức. Ông đã nghiên cứu cấu trúc thuế và chính sách cổ tức trong khoảng thời gian 1919-1960.
Kết quả cho thấy khả năng chi trả cổ tức đƣợc giải thích tốt hơn xem xét tới biến dòng tiền thuần trong kì, tức là, sử dụng lợi nhuận sau thuế cộng với chi phí khấu hao thay thế cho lợi nhuận ròng sau thuế trong mô hình của Lintner (1956) vì nó phản ánh chính xác hơn thu nhập của công ty. Mô hình mà Brittain đã đƣa ra là: Dt = β0 + β1CFt + β2Dt-1 + et Ahmed và Attiya (2009) đã phân tích các yếu tố quyết định chính sách cổ tức trong nền kinh tế mới nổi Pakistan bằng cách sử dụng dữ liệu của 320 công ty niêm yết tại KSE từ năm 2001-2006. Đầu tiên, họ đã phân tích mô hình của Lintner và tìm thấy rằng các công ty Pakistan chủ yếu dựa vào thu nhập hiện tại và cổ tức trong quá khứ để điều chỉnh chính sách chi trả cổ tức của họ. Tiếp đó, Ahmed và Attiya tiến hành phân tích các yếu tố quyết định chính sách chi trả cổ tức và nhận thấy các công ty có lợi nhuận ròng ổn định 6 sẽ chi trả cổ tức nhiều hơn.
Hơn nữa, nghiên cứu này cũng chỉ ra mức độ sở hữu và tính thanh khoản của thị trƣờng có quan hệ cùng chiều với tỷ lệ chi trả cổ tức nhƣng tăng trƣởng doanh thu lại không ảnh hƣởng đến cổ tức chi trả và quy mô công ty có mối tƣơng quan nghịch đến việc chi trả cổ tức. He và Li (2009) đã nghiên cứu dữ liệu của các công ty niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Trung Quốc từ năm 2003 đến 2007 để kiểm tra các yếu tố ảnh hƣởng đến chính sách chi trả cổ tức của công ty. Trên cơ sở nghiên cứu này, họ đã kết luận rằng các đặc trƣng của cơ cấu tổ chức là yếu tố quan trọng nhất ảnh hƣởng đến chính sách cổ tức. Họ nhận thấy lợi nhuận, đòn bẩy tài chính, tỷ lệ nắm giữ tiền mặt có ảnh hƣởng đến việc chi trả cổ tức của các công ty cổ phần.
Sim và Appannan (2011) đã thực hiện khảo sát, kiểm tra các yếu tố chính quyết định sự thanh toán cổ tức tại các công ty niêm yết của Malaysia trong ngành công nghệ thực phẩm thuộc lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng. Mối quan hệ giữa các biến độc lập đến cổ tức trên mỗi cổ phiếu đƣợc thực nghiệm phân tích thông qua phân tích mối tƣơng quan Pearson và mô hình hồi quy. Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các biến có mỗi quan hệ chặt chẽ với biến phụ thuộc không nhất thiết là các yếu tố quyết định chi trả cổ tức, ví dụ nhƣ lợi nhuận sau thuế có mối quan hệ chặt chẽ với cổ tức mỗi cổ phần nhƣng đƣợc coi là không thích hợp trong trƣờng hợp của mô hình hồi quy. Nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu và cổ tức mỗi cổ phần năm trƣớc là các yếu tố quan trọng quyết định cổ tức chi trả trong ngành công nghiệp thực phẩm tại Malaysia.
Mehta (2012) đã nghiên cứu những yếu tố quyết định chính sách chi trả cổ tức của các công ty ở Các tiểu vƣơng quốc Ả Rập thống nhất (UAE) trên thị trƣờng chứng khoán Dhabi trong khoảng thời gian 5 năm từ 2005 -2009 với các biến độc lập là Lợi nhuận, Tăng trƣởng doanh thu, Tính thanh khoản, 7 Quy mô và Đòn bẩy. Để phân tích hành vi thanh toán cổ tức của các công ty UAE, ông đã sử dụng nhiều mô hình hồi quy tuyến tính, dựa trên kết quả nghiên cứu này, ông nhận thấy rằng quy mô, rủi ro và lợi nhuận giải thích 42% chính sách cổ tức. Các kết quả cũng cho thấy quy mô và rủi ro là hai yếu tố quan trọng nhất trong việc quyết định chính sách cổ tức của các công ty UAE. Ông nhận định rằng, các kết quả thu đƣợc nhƣ vậy cũng tƣơng tự nhƣ các nghiên cứu khác đƣợc thực hiện ở các nƣớc đang phát triển, tức là quy mô doanh nghiệp càng lớn thì chi trả cổ tức càng nhiều.
Các nghiên cứu thực hiện mô hình hồi quy tuyến tính đa biến để mô tả mối tƣơng quan giữa các nhân tố và xác định mức độ ảnh hƣởng của chúng đến chính sách cổ tức mà các doanh nghiệp lựa chọn. Những nghiên cứu trên đƣợc thực hiện tại những thời điểm khác nhau, ở những quốc gia, những nền kinh tế không giống nhau nhƣng có chung một số nhân tố giống nhau tác động đến chính sách cổ tức của các doanh nghiệp niêm yết. Trong đó, phải kể đến sự tác động của các nhân tố nhƣ chính sách cổ tức trong quá khứ, lợi nhuận, ở các nƣớc phát triển hay đang phát triển thì hai nhân tố này cũng có ảnh hƣởng rất lớn đến chính sách cổ tức. Còn các nhân tố khác nhƣ Tốc độ tăng trƣởng, Quy mô doanh nghiệp, Tính thanh khoản, Đòn bẩy tài chính có mức độ ảnh hƣởng khác nhau trong các nghiên cứu khác nhau.
Ở Việt Nam chƣa có nhiều nghiên cứu bàn về chính sách cổ tức, chƣa có một mô hình thống nhất để giải thích hành vi chi trả cổ tức của các doanh nghiệp. Kế thừa những đóng góp của các nghiên cứu trƣớc, đề tài tập trung xem xét ảnh hƣởng của các nhân tố đó trong nền kinh tế Việt Nam, thông qua các doanh nghiệp niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán. 8 CHƢƠNG 1 CHÍNH SÁCH CỔ TỨC VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÍNH SÁCH CỔ TỨC CỦA DOANH NGHIỆP 1. TỔNG QUAN VỀ CỔ TỨC VÀ CHÍNH SÁCH CỔ TỨC 1.
Các khái niệm - Cổ tức (Dividend) Cổ tức cổ phần hay lợi tức cổ phần là một phần lợi nhuận sau thuế đƣợc công ty cổ phần chia cho các chủ sở hữu bằng nhiều hình thức khác nhau nhƣ tiền mặt, cổ phần hoặc tài sản khác. Cổ tức gồm có cổ tức dành cho cổ phần ƣu đãi và cổ tức dành cho cổ phần thƣờng. Cổ tức trả cho cổ phần ƣu đãi là một mức hay một tỷ lệ cố định theo các điều kiện áp dụng riêng cho mỗi loại cổ phần ƣu đãi. Cổ tức trả cho cổ phần thƣờng đƣợc xác định căn cứ vào lợi nhuận ròng còn lại sau khi đã trích lợi nhuận giữ lại để tái đầu tƣ, phát triển công việc kinh doanh [31].
Nguồn gốc của chi trả cổ tức bắt đầu từ chi trả các khoản vốn góp mà mỗi thành viên đã tham gia góp và chi trả lợi nhuận, các khoản thu từ thanh lý tài sản cho những ngƣời có quyền yêu cầu. Tuy nhiên, hình thức chi trả các khoản vốn đã góp không đem lại hiệu quả nên việc chi trả cổ tức chuyển sang từ lợi nhuận. Ngày nay, ngƣời ta hiểu bất cứ sự thanh toán trực tiếp nào của công ty cho các cổ đông đều đƣợc coi là cổ tức. Song thuật ngữ trả cổ tức thƣờng đƣợc hiểu là sự chi trả hay phân phối từ lợi nhuận của các công ty cổ phần cho các cổ đông của công ty đó.
Thực chất đó là phần lợi tức mà cổ đông nhận đƣợc từ phần lợi nhuận có đƣợc của hoạt động kinh doanh của công ty. Những sự chi trả từ nguồn khác, không phải từ lợi nhuận, bản chất không phải là cổ tức. Không có quy định nào về mặt pháp lý bắt buộc các công ty phải trả cổ tức cho các cổ đông, ngay cả khi công ty làm ăn có lãi. 9 Hội đồng quản trị của công ty là đại diện để đƣa ra quyết định tăng, giảm hoặc từ bỏ việc trả cổ tức.
- Chính sách cổ tức (Dividend Policy) Chính sách cổ tức là chính sách ấn định mức lợi nhuận sau thuế của công ty sẽ đƣợc đem chia nhƣ thế nào, bao nhiêu đƣợc giữ lại để tái đầu tƣ và bao nhiêu dùng để chi trả cổ tức cho các cổ đông. Lợi nhuận giữ lại có thể mang đến cho nhà đầu tƣ nguồn tăng trƣởng lợi nhuận trong tƣơng lai còn cổ tức cung cấp cho họ thu nhập ngay ở hiện tại. Vì thế, chính sách cổ tức sẽ có ảnh hƣởng đến số lƣợng vốn cổ phần trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp (thông qua lợi nhuận giữ lại) và chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp. Có hai mô hình chính sách cổ tức cơ bản là mô hình chính sách ổn định cổ tức và mô hình chính sách thặng dƣ cổ tức [14].