Chương 1: Cơ sở khoa học về công tác bôi thường, hỗ trợ thực hiện giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hi đất nông nghiệp Chương 2: Thực trạng công tác bôi thường, hỗ trợ thực hiện giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nói Chương 3: Phương hướng và dé xuất giải pháp hoàn thiện công tác bồi thường, hỗ trợ thực hiện GPMB khi Nhà nước thu hôi đất nông nghiệp trên địa bàn quận Hà Đông, thành pho Hà Nội 12 CHUONG 1: CƠ SO KHOA HOC VE CÔNG TÁC BOI THUONG, HỖ TRO THUC HIEN GIAI PHONG MAT BANG KHI NHA NUOC THU HOI DAT NONG NGHIEP 1. Một số khái niệm chung 1. Đất nông nghiệp Định nghĩa dat nông nghiệp theo Từ điển Luật hoc: “Dat nông nghiệp là tổng thể các loại đất được xác định là tư liệu sản xuất chủ yếu phục vụ cho việc trồng trọt và chăn nuôi, nghiên cứu thí nghiệm về trong trọt và chăn nuôi, bảo vệ môi trường sinh thái, cung ứng sản phẩm cho các ngành công nghiệp và dịch vụ ”. Theo Điều 42 Luật Đất đai năm 1993, đất nông nghiệp được hiểu là đất được xác định chủ yếu dé sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trong thuỷ sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp.
Luật Dat dai 2003 lại dựa vào tiêu chí mục đích sử dụng dé phan loai dat, dat dai được chia theo các nhóm: nhóm đất nông nghiệp, nhóm dat phi nông nghiệp va nhóm đất chưa sử dụng. Căn cứ theo mục đích sử dụng, Luật đất đai 2003 đã mở rộng khái niệm hơn với tên gọi “nhóm đất nông nghiệp”, thay thế cho tên gọi “đất nông nghiệp” trước đó. Luật Đất đai 2013 cũng tiếp tục chia đất đai làm 3 loại dưới dạng nhóm đất, bao gồm các loại đất: Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; Đất trồng cây lâu năm; Dat rừng sản xuất; Dat rừng phòng hộ; Dat rừng đặc dung; Dat nuôi trồng thủy san; đất làm muối; đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng dé xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục dich trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và dat trồng hoa, cây cảnh (theo Khoản 1 Điều 10 Luật Dat đai 2013). Như vậy, có thé hiểu đất nông nghiệp bao gồm tông thé các loại đất có đặc tính sử dụng giống nhau là tư liệu sản xuất phục vụ cho mục đích sản xuất nông- lâm nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, đất làm muối; nghiên cứu thí nghiệm về nông - lâm nghiệp.
Thu hồi đất Thu hồi đất là một trong số những nội dung quản lý nhà nước về đất đai, nằm trong trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai. Trái lại với giao đất, cho thuê đất - những hình thức pháp lý làm hình thành một quan hệ pháp luật đất đai, thì thu hồi đất là một biện pháp làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai băng một quyết định hành chính của cơ quan Nhà nước có thâm quyền. Qua từng thời kỳ, khái niệm thu hồi đất được pháp luật quy định như sau: Luật Dat đai năm 1987 và Luật Dat dai năm 1993 ra đời, van dé thu hồi đất đã được đề cập đến nhưng lại chưa định nghĩa một cách rõ ràng cụ thê mà chỉ liệt kê các trường hợp bị thu hồi đất (Điều 14 Luật Dat đai 1987 và Điều 26 Luật Dat đai 1993). Khi Luật Dat đai 2003 ra đời, khái niệm thu hồi đất được thu hồi đất được giải thích tại Khoản 5 Điều 4: “Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyên sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị tran quản lý theo quy định của Luật này”.
Dù đã có sự điều chỉnh và mở rộng van đề thu hồi đất hơn, song cách quy định này chưa thật sự đầy đủ và rõ ràng. Đến nay, trải qua tương đối nhiều lần bồ sung, sửa đổi, hoàn thiện, Luật Dat đai 2013 ra đời, các quy định về thu hồi đất cũng dần dần khắc phục và rõ ràng hơn rất nhiều. Cụ thể, tại Khoản 11 Điều 3 Luật Đất đai 2013 quy định: “Nhà nước thu hôi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyên sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyên sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về dat dai”. Có thể hiểu thu hồi đất một cách khái quát như sau: Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại đất và quyền sử dụng đất đã giao cho các chủ sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai.
Như vậy, thu hồi đất nông nghiệp là việc Nhà nước ra quyết định hành chính dé thu lại đất nông nghiệp và quyền sử dụng đất nông nghiệp đã giao cho các chủ sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai. Boi thường Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng, bồi thường được hiểu là “đền bù những ton hại đã gây ra”. Đền bù là trả lại tương xứng giá trị hoặc công lao. Do đó, bồi 14 thường là trả lại twong xứng về giá trị hoặc công lao cho chủ thé nao đó bị thiệt hai do hành vi của chủ thé khác mang lại.
Trong lĩnh vực pháp luật, trách nhiệm bồi thường được đặt ra khi một chủ thé có hành vi gây thiệt hại cho chủ thé khác trong xã hội. Đó có thé là bồi thường trong dân sự, bồi thường nhà nước,. Đặt trong quan hệ pháp luật đất đai, khái niệm “đền bù” xuất hiện từ Luật Dat đai năm 1987 và Luật Dat đai năm 1993. Từ khi Luật Dat dai năm 1993 được sửa đồi, bố sung năm 2001, Quốc hội đã thong nhất cụm từ “bôi thường” thay cho “đền bù” và “đền bù thiệt hại”.
Khi Luật Dat dai 2003 ra đời, thuật ngữ “bồi thường” tiếp tục được xuất hiện, theo đó, “Boi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá tri quyên sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hôi dat” (Khoản 6, Điều 4 Luật Dat dai năm 2003). Tuy nhiên, quy định này chưa thật sự chặt chẽ và chưa thé hiện được trọn vẹn những giá trị thiệt hại mà Nhà nước sẽ bồi thường khi thu hồi đất. Vì vậy trong Luật Dat đai năm 2013 được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2013, tại Khoản 12 Điều 3 về giải thích từ ngữ đã quy định rõ: “Boi thường về dat là việc Nhà nước trả lại giá trị quyên sử dụng đất đối với diện tích dat thu hôi cho người sử dụng dat”. Còn van đề hỗ trợ và bồi thường thiệt hại về tài sản được quy định tại mục 2, mục 3 chương VỊ của Luật này.
Như vậy, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất có thé được hiểu là việc Nha nước bù đắp những ton hại về đất và tài sản trên đất do hành vi thu hồi dat gây ra cho người sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai dé sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển KT - XH. Tóm lại, có thé hiểu khái niệm bồi thường khi Nha nước thu hồi đất nông nghiệp như sau: Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp là việc Nhà nước bu đắp những tốn hại về đất và tài sản trên đất do hành vi thu hồi đất nông nghiệp gây ra cho HGD, CN, tô chức theo quy định của pháp luật đất đai dé sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển KT - XH. Hỗ trợ Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng, “Hổ trợ: Giúp thêm, góp thêm vào ”. Dưới góc độ ngôn ngữ, hỗ trợ là sự trợ giúp, giúp đỡ của cộng đồng trong hoàn cảnh nào đó nhằm giảm thiểu, san sẻ bớt những khó khăn mà người được hỗ trợ gặp phải.
Hoạt động này bao gồm hỗ trợ về vật chất và hỗ trợ về tỉnh thần. 15 Trong mối quan hệ giữa nhà nước và người bị thu hồi đất, để giúp người bị thu hồi đất vượt qua khó khăn, ồn định sản xuất thì bên cạnh việc bồi thường Nha nước phải thực hiện hỗ trợ. Theo Khoản 14 Điều 3 Luật Dat dai 2013: “H6 tro khi Nhà nước thu hoi dat là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hôi dé 6n định đời sống, sản xuất và phát triển ”. Việc bồi thường, hỗ trợ chỉ phát sinh khi quyết định thu hồi đất có hiệu lực pháp luật.
“Hỗ trợ” góp phần xoa dịu sự bất bình của người dân có đất nông nghiệp bị thu hồi khi mà giá đất bồi thường hiện nay chưa hợp lý, chưa thể bù đắp được các thiệt hại mà người nông dân phải gánh chịu. Bởi lẽ, khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp, mặc dù đối tượng bị thu hồi chỉ là một diện tích đất, song thiệt hại đối với người dân không chỉ nằm ở những mét vuông đất. Ngoài các thiệt hại hữu hình về giá trị quyền sử dụng đất, công trình xây dựng, cây trồng, vật nuôi; còn là các thiệt hại vô hình khác như mất ôn định cuộc sống, mất tư liệu sản xuất gan bó từ bao đời, khó khăn phải học nghề mới phải thay đổi tư duy lao động, tìm việc làm, thiệt hại về mặt tinh thần,. Qua đó, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp có thể hiểu là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất nông nghiệp ổn định đời sống, sản xuất và phát triên thông qua một sô hoạt động như đảo tạo nghê mới, bô trí, tìm kiêm việc làm.
Việc quy định chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nói chung và đất nông nghiệp nói riêng thé hiện tính nhân đạo, là quy định thiết thực, sát sao; phan ánh đúng bản chất của nước ta là “Nhà nước của dân, do dân và vì dân ”. Giải phóng mặt bằng Giải phóng mặt bằng là quá trình nhà nước thu hồi đất thực hiện di dời nhà cửa, cây cối và các công trình xây dựng trên phần đất nhất định của tô chức, cá nhân, hộ gia đình sử dụng dat dé chuyén giao cho chu dự án (Chu dau tư).