Chương 1: Tổ ng quan tài liệu Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kế t quả nghiên cứu và thảo luâ ̣n Nội dung cơ bản của từng chương như sau: Bïi Quang B×nh LuËn v¨n tèt nghiÖp 2 Tr-êng §¹i häc Khoa häc tù nhiªn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghiªn cøu x©y dùng Bé chØ thÞ Khu ®« thÞ Sinh th¸i vµ thö nghiÖm ®¸nh gi¸ cho c¸c Khu ®« thÞ míi t¹i Thµnh phè Hµ Néi. Chƣơng 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan Đô thị Sinh thái 1. Khái niệm về Đô thị, Khu đô thị Các khái niệm về đô thị đều có tính tương đối xuất phát từ sự khác nhau về trình độ phát triển kinh tế xã hội, đặc điểm văn hóa, hệ thống dân cư.
Mỗi nước trên thế giới có quy định riêng tùy theo yêu cầu và khả năng quản lý của mình. Nếu xem xét trên một phương diện chung nhất thì đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp. [15] Trên quan điểm xã hội học, đô thị là một hình thức tồn tại của xã hội trong một phạm vi không gian cụ thể và là một hình thức cư trú của con người. “Sự tồn tại của đô thị tự bản thân nó khác hẳn vấn đề đơn giản là xây dựng nhiều nhà cửa độc lập với nhau, ở đây cái tổng hợp, cái chung nhất không phải là con số cộng của những bộ phận cấu thành.
Đó là một cơ thể sống riêng biệt theo kiểu của nó”. [4] Dưới góc độ quản lý kinh tế-xã hội, đô thị là điểm dân cư tập trung, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của một vùng lãnh thổ, có cơ sở hạ tầng đô thị thích hợp và có quy mô dân số thành thị tối thiểu là 4.000 người (đối với miền núi tối thiểu là 2.800 người) với tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu là 65%. Đô thị gồm các loại: thành phố, thị xã và thị trấn. Đô thị bao gồm các khu chức năng đô thị.
[1] Có thể thấy khái niệm về đô thị nhằm nhấn mạnh hai mặt là phát triển xã hội và phát triển kinh tế đô thị. Về mặt xã hội, đô thị là một hình thức cư trú, ở đó có mật độ dân cư cao, mức sống cao, tiện nghi đầy đủ hơn cùng với những thể chế luật lệ tiến bộ. Không gian đô thị bao gồm không gian kiến trúc, hạ tầng kỹ thuật, cảnh quan môi trường,.Về mặt kinh tế, hoạt động sản xuất ở đô thị chủ yếu là công nghiệp và dịch vụ. Để có sự phát triển kinh tế-xã hội, đô thị phải có một cơ sở hạ tầng kỹ thuật tiên tiến, nhờ có sự phát triển kinh tế-xã hội mà đô thị có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của vùng hoặc liên vùng lãnh thổ.
Bïi Quang B×nh LuËn v¨n tèt nghiÖp 3 Tr-êng §¹i häc Khoa häc tù nhiªn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghiªn cøu x©y dùng Bé chØ thÞ Khu ®« thÞ Sinh th¸i vµ thö nghiÖm ®¸nh gi¸ cho c¸c Khu ®« thÞ míi t¹i Thµnh phè Hµ Néi. Khu đô thị (KĐT) là khu vực xây dựng một hay nhiều khu chức năng của đô thị, được giới hạn bởi các ranh giới tự nhiên, ranh giới nhân tạo hoặc các đường chính đô thị. KĐT bao gồm: các đơn vị ở; các công trình dịch vụ cho bản thân khu đô thị đó; có thể có các công trình dịch vụ chung của toàn đô thị hoặc cấp vùng. [1] Khái niệm khu đô thị mới bắt đầu xuất hiện ở nước ta từ những năm 1994 gắn liền với sự ra đời của một số khu đô thị điển hình như Định Công, Trung Yên, Bắc Linh Đàm…Hiện nay thuật ngữ “Khu đô thị mới” thường được hiểu là một khu nhà ở mới được xây dựng tập trung theo quy hoạch được duyệt, có đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, bao gồm hệ thống nhà ở và các công trình công cộng khác để sử dụng vào mục đích kinh doanh hoặc không kinh doanh.
Khái niệm Đô thi Sinh ̣ thái Từ cuố i những năm 80 của thế kỷ XX , hiê ̣p hô ̣i Đô thi ̣ Sinh thái Quố c tế chính thức được thành lập , để cải thiện môi trường cư trú của con người ở đô thị , xây dựng đô thi ̣hài hòa giữa con người và tự nhiên , năm 1990 ở Berkeley Mỹ đã họp Đại hội Đô thị Sinh thái Quốc tế lần t hứ nhấ t , sau đó năm 1992 ở Adelaide - Australia, năm 1996 ở Dakar - Xênêgan, năm 2000 ở Curitiba - Brazil, năm 2002 ở Thâm Quyế n - Trung Quố c đã liên tiế p cử hành các đa ̣i hô ̣i đô thi ̣sinh thái quố c tế lầ n thứ 2, 3, 4, 5. Các học giả trên thế giới đã triể n khai rấ t nhiề u nghiên cứu , làm cho khái niê ̣m đô thi ̣sinh thái ngày càng đươ ̣c bổ sung và hoàn thiê ̣n. Năm 1984 học giả sinh thái Liên Xô N .Yanitsky cho rằ ng : Đô thi ̣ Sinh thái (ĐTST) là một mô hình đô thị lý tưởng, là nơi kỹ thuật và tự nhiên hài hòa đầy đủ , sức sáng ta ̣o của con người đươ ̣c phát huy cao nhấ t , thể xác và tinh thầ n của người dân lành ma ̣nh và chấ t lươ ̣ng môi trường đươ ̣c bảo vê ̣ đế n mức cao nhấ t , vâ ̣t chấ t , năng lươ ̣ng, thông tin sử du ̣ng với hiê ̣u quả cao , sinh thái tuầ n hoàn lành ma ̣nh. [18] Học giả sinh thái Trung Quốc Vương Như Tùng cho rằng ĐTST là nơi tụ cư của con người , ở đó xã hội , kinh tế , tự nhiên phát triể n hài hòa , vâ ̣t chấ t , năng lươ ̣ng, thông tin sử du ̣ng có hiê ̣u quả cao , sinh thái tuầ n hoàn lành ma ̣nh.
Chữ “sinh thái” của thành phố sinh thái có hai hàm ý : Quan hê ̣ hài hòa giữa con người và môi trường tự nhiên và quan hê ̣ hài hòa giữa con người và môi trường xã hô ̣i. Chữ Bïi Quang B×nh LuËn v¨n tèt nghiÖp 4 Tr-êng §¹i häc Khoa häc tù nhiªn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghiªn cøu x©y dùng Bé chØ thÞ Khu ®« thÞ Sinh th¸i vµ thö nghiÖm ®¸nh gi¸ cho c¸c Khu ®« thÞ míi t¹i Thµnh phè Hµ Néi. “thành” trong “ thành phố Sinh thái” là chỉ mô ̣t hê ̣ thố ng cô ̣ng sinh tự tổ chức , tự điề u tiế t. [18] Quan điểm của ho ̣c giả sinh thái Mỹ , Richard Register về các thành phố sinh thái, thì đó là việc chuyển đổi các đô thị mật độ thấp, dàn trải thành mạng lưới các khu dân cư đô thị mật độ cao hoặc trung bình có quy mô giới hạn, được phân cách bởi các khoảng không gian xanh, hầu hết mọi người sinh sống và làm việc trong phạm vi khoảng cách đi bộ và đi xe đạp.
Theo tổ chức y tế thế giới WHO “Một đô thị sinh thái là đô thị mà trong quá trình tồn tại và phát triển của nó không làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, không làm suy thoái môi trường, không gây tác động xấu đến sức khỏe cộng đồng và tạo điều kiện thuận tiện cho mọi người sống, sinh hoạt và làm việc trong đô thị”. Qua nghiên cứu khái niê ̣m về đô thị sinh thái cùng với Tuyên bố San Francisco - Hội nghị thế giới về thành phố sinh thái lần thứ 7 năm 2008 cho thấy một đô thị sinh thái cần có: [11] - An ninh sinh thái: không khí trong lành, thức ăn và nguồn nước sạch, an toàn, nơi làm việc và nhà ở đảm bảo tiêu chuẩn cho sức khỏe, có các dịch vụ bảo vệ người dân chống lại các thảm họa. - Hệ thống xử lý chất thải sinh thái: xử lý, tái chế chất thải hiệu quả, chi phí thấp, bằng công nghệ hiện đại. - Công nghiệp sinh thái: bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường, nhấn mạnh vào tái chế, tái sử dụng, sử dụng năng lượng tái tạo, chất thải của ngành này là đầu vào cho ngành kia.
- Tính nguyên vẹn của không gian sinh thái: Sắp xếp các kiến trúc không gian như công viên, quảng trường, sự kết nối như đường phố, cầu, và các khu vực có hệ sinh thái tự nhiên, tăng đa dạng sinh học, khiến cho tất cả người dân đều có nhận thức về việc bảo tồn tài nguyên và năng lượng, giảm nhẹ các rủi ro như tai nạn giao thông, ô nhiễm, hiệu ứng tăng nhiệt độ khu vực đô thị, nóng lên toàn cầu. - Nhận thức sinh thái: Giúp mọi người hiểu biết về tự nhiên, về văn hóa, có trách nhiệm với môi trường trong khu vực họ sống, từ đó giúp thay đổi thói quen Bïi Quang B×nh LuËn v¨n tèt nghiÖp 5 Tr-êng §¹i häc Khoa häc tù nhiªn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghiªn cøu x©y dùng Bé chØ thÞ Khu ®« thÞ Sinh th¸i vµ thö nghiÖm ®¸nh gi¸ cho c¸c Khu ®« thÞ míi t¹i Thµnh phè Hµ Néi. tiêu dùng và khuyến khích sự đóng góp của người dân vào việc duy trì chất lượng môi trường đô thị. Như vâ ̣y ĐTST là mô ̣t tấ t yế u khách quan của sự phát triển bền vững , viê ̣c xây dựng các đô thị theo hướng đô thị sinh thái cầ n phải định hướng và tuân theo những nguyên tắ c đươ ̣c xác lâ ̣p.
Nguyên tắc xây dựng Đô thị Sinh thái Hội nghị của tổ chức Y tế thế giới họp tại thành phố cảng Livepool (Anh) năm 1998 đã đề ra nguyên tắc chính để xây dựng đô thị sinh thái như sau: [9] 1. Quy mô dân số và phát triển kinh tế-xã hội của đô thị được giữ ở mức phù hợp với khả năng “chịu tải” của môi trường và tài nguyên thiên nhiên. Hệ sinh thái đô thị luôn giữ được thế cân bằng, ổn định. Thay đổi cách sống đô thị và cách sản xuất để làm cho các dòng vật chất, nguyên liệu, năng lượng diễn ra trong chu trình khép kín.
Dòng vật chất và năng lượng đi vào và đi ra, lưu chuyển trong đô thị hài hòa. Hoạt động của đô thị và con người trong đô thị thải ra ít chất thải nhất, các chất thải được quay vòng sử dụng, tái sử dụng, được thu gom và xử lý hoàn toàn đúng kỹ thuật vệ sinh.