MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Tài nguyên thiên nhiên là nguồn của cải vật chất do thiên nhiên tạo ra, nó là nguồn vật chất quý giá đối với xã hội loài người, vừa phục vụ trực tiếp cho con người, vừa phục vụ cho các ngành sản xuất. Danh mục các loại tài nguyên thiên nhiên phụ thuộc vào trình độ hiểu biết và sự phát triển của khoa học kĩ thuật do xã hội loài người và sự tiến bộ của nhân loại phát minh sáng chế. Danh mục những loại tài nguyên cơ bản phục vụ trực tiếp cuộc sống ta phải kể ngay đến tài nguyên đất, tài nguyên nước., vì vậy đất đai cũng là một loại tài nguyên thiên nhiên, mà lại là một loại tài nguyên thiên nhiên vô cùng quan trọng, nó không thể thay thế trong hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Đất được xem: “Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế trong hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp, đất còn là địa bàn phân bố dân cư, nơi xây dựng các cơ sở kinh tế…”. Từ sau ngày đất nước bước vào công cuộc đổi mới (1986), đặc biệt từ sau những năm 1990 quá trình công nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ ở các khu vực có điều kiện thuận lợi; quá trình công nghiệp hóa mang lại nhiều thời cơ cho sự phát triển kinh tế ở mỗi địa phương, nhưng cũng tạo nên nhiều thách thức, nhiều áp lực tới các thành phần tự nhiên của địa phương, các hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động công nghiệp nói riêng đang diễn ra, đó là tình trạng ô nhiễm môi trường đặc biệt ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm môi trường không khí và suy thoái tài nguyên cũng như chất lượng đất đai, thu hẹp diện tích sử dụng đất ngày một nhanh. Để nông nghiệp ở các khu vực Đồng bằng châu thổ phát triển bền vững thì việc sử dụng hợp lí cũng như tái tạo bảo vệ tài nguyên đất đai là điều hết sức cần thiết. Hải Dương là tỉnh nằm ở vị trí trung tâm của Đồng bằng châu thổ Sông Hồng, đất đai được hệ thống sông Hồng đặc biệt là hệ thống sông Thái Bình Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bồi đắp, nên đất đai của tỉnh rất màu mỡ.
Hải Dương còn là tỉnh nằm trên nhiều tuyến đường quốc lộ quan trọng chạy qua, nằm quãng giữa hai thành phố lớn Hà Nội - Hải Phòng, nằm trong tam giác tăng trưởng kinh tế mạnh nhất cả nước Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, nằm trong Vùng công nghiệp trọng điểm Bắc Bộ. Huyện Cẩm Giàng nằm ở vị trí cửa ngõ phía Tây của tỉnh Hải Dương, nằm trên các giao lộ, các trục giao thông quan trọng. Quá trình công nghiệp hóa (CNH) của huyện Cẩm Giàng cũng như của tỉnh Hải Dương diễn ra hết sức mạnh mẽ, quá trình CNH không tránh khỏi tình trạng thu hẹp diện tích hoạt động sản xuất nông nghiệp để nhường chỗ cho sự gia tăng hoạt động công nghiệp (hình thành nhiều khu công nghiệp tập trung, cụm công nghiệp) và dịch vụ, ngoài ra đất cũng như các thành phần tự nhiên khác hiện nay đang có diễn biến phức tạp chịu sự tác động mạnh mẽ từ con người. Hiện nay hoạt động sản xuất nông nghiệp vẫn được coi là hoạt động kinh tế có vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế của địa phương.
Nghiên cứu biến động sử dụng đất có ý nghĩa hết sức quan trọng, để đánh giá thực trạng và đề xuất các định hướng nhằm sử dụng hợp lí và bảo vệ và quản lý tài nguyên đất đai địa phương, vì mục tiêu phát triển bền vững. Từ thực tế trên nên tôi mạnh dạn chọn đề tài “Nghiên cứu biến động sử dụng tài nguyên đất giai đoạn 2005-2015 ở huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương”. Nhằm làm rõ thực trạng sử dụng đất đai và phân tích nguyên nhân sự biến động đối với việc sử dụng đất đai đang diễn ra ở địa phương, từ đó đề xuất các giải pháp quản lý cũng như sử dụng hợp lí tài nguyên đất đai theo hướng bền vững. Lịch sử nghiên cứu của đề tài 2.
Lịch sử nghiên cứu sử dụng tài nguyên đất đai trên thế giới và Việt Nam Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu, đánh giá thực trạng sử dụng đất cũng như biến động sử dụng đất đai, từ đó đã đề ra được các biện pháp hữu hiệu nhằm khai thác hợp lí tài nguyên đất đai vì mục tiêu phát triển bền vững [6]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Một số nhà khoa học trên thế giới ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng mô hình trong không gian xác định nguyên nhân ảnh hưởng cũng như biến động sử dụng đất và lớp phủ thực vật. Từ đó hình thành nên bản đồ sử dụng đất qua các thời kỳ (theo các mốc thời gian điều tra khảo sát). Theo Stewat, đánh giá đất đai “sự đánh giá khả năng thích nghi của đất đai cho việc sử dụng của con người vào nông nghiệp, lâm nghiệp, thiết kế thủy lợi, quy hoạch sử dụng” và đánh giá nhằm mục tiêu cung cấp những thông tin về sự thuận lợi và khó khăn cho việc sử dụng đất đai.
Tại Liên Xô và các nước Đông Âu từ những năm 60 của thế kỷ XX các công trình đánh giá đất đai được thực hiện theo 3 bước [21]: Bước 1: Đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng. Bước 2: Đánh giá khả năng sản xuất của đất kết hợp giữa thổ nhưỡng cũng như khí hậu và địa hình. Bước 3: Đánh giá kinh tế đất. Như vậy phương pháp này chưa xem xét đầy đủ khía cạnh kinh tế - xã hội của việc sử dụng và tác động đến tài nguyên đất đai.
Thập niên 50 thế kỷ XX tại Hoa Kỳ, cục cải tạo đất đai (USBR) đã tiến hành phân loại khả năng thích nghi đất đai có nước tưới. Trong đó ngoài đặc điểm đất đai, một số chỉ tiêu kinh tế cũng được chú trọng nhưng giới hạn ở phạm vi thủy lợi. Sau đó, năm 1964 các tác giả Klinggbiel và Montgomery đã đưa ra khái niệm “khả năng đất đai”, chỉ tiêu chính để phân loại khả năng đất đai là các hạn chế của lớp phủ thổ nhưỡng cho mục tiêu canh tác được đề nghị, đây là một dạng đánh giá đất đai sơ lược, gắn với hiện trạng sử dụng đất. Hiện nay trên thế giới đặc biệt là các nước công nghiệp phát triển xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất và theo dõi biến động sử dụng đất được tiến hành thường xuyên trên cơ sở sử dụng các tư liệu viễn thám cùng với phần mềm xử lí số liệu chuyên dụng.
Ví dụ (VD) ở Hoa Kỳ người ta sử dụng phương pháp xử lí ảnh số để thường xuyên cập nhật các thông tin về hiện trạng sử dụng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đất trong công tác quản lí đất đai, cũng như trong nghiên cứu biến động rừng, thậm chí họ còn dự báo tình trạng sâu bệnh đối với các loại cây trồng trong sản xuất nông nghiệp (ảnh vệ tinh). Tại Việt Nam những công trình nghiên cứu, đánh giá đất đai tiêu biểu bắt đầu từ thập niên 80 của thế kỷ XX trở lại đây [21]. Năm 1984, tác giả Tôn Thất Chiểu và cộng sự thực hiện khả năng đánh giá, phân hạng, khái quát toàn quốc theo nguyên tắc phân loại khả năng đất đai của Hoa Kỳ, chỉ tiêu là các đặc điểm thổ nhưỡng và địa hình, phân cấp thành 7 nhóm: (4 nhóm đất nông nghiệp, 2 nhóm đất lâm nghiệp và 1 nhóm đất cho mục đích khác) [21]. Năm 1985, tác giả Bùi Quang Toản và cộng sự đã nghiên cứu đánh giá quy hoạch sử dụng đất khai hoang ở Việt Nam theo phương pháp của FAO.
Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm thổ nhưỡng, thủy văn và các điều kiện tưới tiêu. Hệ thống phân vị là lớp thích nghi cho từng loại đất sử dụng. Năm 1986, nhóm tác giả quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp đã biên tập “Cơ sở khoa học bố trí sử dụng đất đồng bằng sông Cửu Long”, trên cơ sở xây dựng bản đồ sinh thái nông nghiệp. Đơn vị là cơ sở các đơn vị sinh thái, từ đó xây dựng bản đồ thích nghi cho một số cây trồng như lúa, ngô, mía.
với bốn cấp (thích hợp nhất, thích hợp, ít thích hợp, không thích hợp) [21]. Năm 1990 Hoàng Xuân Tứ và các cộng sự đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu đánh giá tiềm năng đất trống đồi núi trọc và xác định phương hướng sử dụng hợp lý” [21]. Việc đánh giá tiềm năng đất dựa trên sự phân loại sinh khí hậu, xây dựng bản đồ mức độ thích hợp về mặt sinh khí hậu, đánh giá khả năng gây trồng và phục hồi rừng áp dụng cho vùng đồi Quang Nam - Đà Nẵng [16]. Việc điều tra nghiên cứu hiện trạng sử dụng đất thông qua xây dựng khai thác thông tin từ bản đồ trong những năm gần đây đạt được những thành tựu đáng kể.
Bản đồ hiện trạng sử dụng đất Việt Nam tỉ lệ 1:1 000 000 được xây dựng 5 năm một lần bằng phương pháp tổng hợp các bản đồ, sơ đồ hiện trạng sử dụng đất tỉ lệ 1:250 000 đến bản đồ 1:100 000 của các tỉnh trong cả nước. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các bản đồ này được xây dựng từ các tư liệu đo vẽ và thống kê diện tích các loại hình sử dụng đất ở các cấp xã, huyện theo một quy trình thống nhất do tổng cục quản lí ruộng đất quy định. Ngoài những công trình nghiên cứu có tầm cỡ quốc gia của các nhà khoa học, theo thống kê sơ lược còn có nhiều đề tài khoa học của các nghiên cứu sinh cũng như nhiều luận án tiến sĩ cũng như luận văn thạc sĩ khoa học cũng nghiên cứu liên quan đến đất đai khắp các vùng miền trên toàn quốc đơn cử như luận án tiến sĩ của TS. Nguyễn Thị Thu Hiền, Nghiên cứu biến động và đề xuất các giải pháp quản lý sử dụng đất hợp lý huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh – Học viện nông nghiệp Việt Nam - 2015.
Vũ Quang Hùng, Nghiên cứu biến động sử dụng đất huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang giai đoạn 2005-2013- ĐH Nông Lâm- ĐH Thái Nguyên - 2013. Nguyễn Thị Thu Hà, Nghiên cứu biến động sử dụng đất của huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2000-2010- ĐHSP- ĐH Thái Nguyên - 2013. Những công trình nghiên cứu liên quan như luận án tiến sĩ của TS.