Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CÁC VẤN ðỀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ðẾN ðÔ THỊ HÓA, KHÔNG GIAN XANH VÀ ðÔ THỊ SINH THÁI 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ðÔ THỊ HÓA VÀ TÁC ðỘNG CỦA ðÔ THỊ HÓA ðẾN KHÔNG GIAN XANH 1. ðô thị và ñô thị hóa 1. Một số khái niệm cơ bản a.
Khái niệm về ñô thị Khái niệm về ñô thị ñược các nhà khoa học ñịnh nghĩa dựa trên các quan ñiểm khác nhau như trình ñộ phát triển KT - XH, ñặc ñiểm văn hóa, nhân khẩu học, mật ñộ dân số… Nhìn chung, ñô thị là không gian ñịnh cư của con người với mật ñộ dân số cao và cơ sở hạ tầng của môi trường xây dựng có mật ñộ. Mỗi quốc gia trên thế giới ñều ñưa ra các ñịnh nghĩa riêng và tiêu chí phân loại cấp ñô thị. Các học giả về ñô thị thường lấy các tiêu chí về số dân và mật ñộ dân số ñể làm tiêu chí xác ñịnh khu vực ñô thị và loại ñô thị [29]. Chẳng hạn Mỹ và Anh ñưa tiêu chí ñô thị tối thiểu là 0,2 km2 với dân số ít nhất là 1.500 người, trong khi ở Trung Quốc ñô thị có mật ñộ dân số 1.500 người trên km2 [89].
Ở Việt Nam, khái niệm ñô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật ñộ cao và chủ yếu hoạt ñộng trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc ñẩy sự phát triển KT-XH của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một ñịa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn [22]. Khái niệm ñô thị hóa Theo quan ñiểm nhân khẩu học của Davis K. (1962), ðTH ñược xem là hiện tượng và quá trình dân số nông thôn ñang dần thay ñổi thành người dân ñô thị. Mức ñộ ñô thị hoá theo quan ñiểm này ñược ño bằng tỷ lệ phần trăm dân số sống ở khu vực thành thị [49].
Trong khi ñó, dưới góc nhìn của các nhà ðịa lý học nghiên cứu ðTH thường xem xét sự thay ñổi về không gian của ñô thị. Do vậy, ðTH ñược ñịnh nghĩa là quá trình dân số nông thôn chuyển thành dân cư ñô thị, ñược biểu thị ở sự gia tăng về mật ñộ dân số ñô thị, quy mô của các thành phố, cũng như diện tích ñất xây dựng và KGX [61], [62]. 6 Như vậy, mỗi lĩnh vực nghiên cứu, xem xét, cung cấp những hiểu biết dưới nhiều góc ñộ, quan ñiểm khác nhau như: Kinh tế, ñời sống xã hội và ñộng lực phát triển và nắm bắt các khía cạnh cụ thể của quá trình ðTH. Quan ñiểm chung nhất có thể thấy, ðTH là một quá trình tích hợp, tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau bởi ðTH dân số, ðTH kinh tế và ðTH không gian.
Trong số ñó con người là ñối tượng trung tâm và hàng ñầu của quá trình này, trong khi hoạt ñộng kinh tế là ñộng lực và không gian là vật mang. Thông qua việc xem xét các khái niệm về ðTH có thể khái quát những ñặc ñiểm chung của ðTH như sau: Gia tăng dân số ñô thị và tỷ lệ dân số ñô thị; gia tăng diện tích ñô thị, phát triển mạng lưới ñô thị; chuyển dịch cơ cấu lao ñộng trong quá trình ðTH; phổ biến rộng rãi lối sống ñô thị. Các tiêu chí ñánh giá quá trình ñô thị hóa Các nghiên cứu trên thế giới và trong nước về quá trình ðTH ñều ñề xuất và sử dụng nhiều tiêu chí khác nhau ñể ñánh giá quá trình ðTH. Trong ñó, tiêu chí thường ñược sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu là tỷ lệ dân số ñô thị.
Có thể tổng hợp một số chỉ số ðTH ñể ñịnh lượng tác ñộng của ðTH ñến phát triển kinh tế và KGX của các tác giả trong và ngoài nước như ở bảng 1. Các tiêu chí nghiên cứu ñô thị hóa Tác giả Các tiêu chí Mục tiêu/mục ñích Sự thay ñổi về: Số dân và Nghiên cứu ảnh hưởng của ðTH mật ñộ dân số, SDð và lớp ñến môi trường ở Thượng Hải, Linli C. và Trung Quốc phủ bề mặt, diện tích mặt Jun S. (2012) ñường và công trình, cấp Mối tương quan giữa các yếu tố [88] nước và tiêu thụ ñiện, khí ðTH và nhiệt ñộ, chỉ số khác ñốt biệt thực vật Tổng số dân; tỷ lệ dân số ñô ðịnh lượng tác ñộng của ñô thị thị; mật ñộ dân số; dân số ñô hóa ñến KGX nhằm phát triển, Juanjuan Z.
et thị; GDP; thu nhập bình mở rộng KGX ở Trung Quốc al. (2013), [79] quân trên ñầu người; ñất ñô thị; tỷ lệ ñất xây dựng; diện tích ñất xây dựng ðánh giá tác ñộng của ñô thị hóa Chan K., Mật ñộ xây dựng; diện tích ñến KGX ở thung lũng Klang Vu T. KGX; diện tích mặt nước nhằm hỗ trợ cho các nhà hoạch (2017) [40] ñịnh, phát triển ñô thị Mật ñộ dân số; tổng sản Tác ñộng của ñô thị hóa lên các Huilei L. phẩm nội ñịa; khu vực có mô hình CQ ở thành phố Bắc (2017), [73] ánh sáng ban ñêm Kinh 7 Tác giả Các tiêu chí Mục tiêu/mục ñích Dân số ñô thị; cơ cấu sử Nghiên cứu quá trình ñô thị hóa Phạm ðỗ Văn dụng lao ñộng; cơ sở hạ tầng và ảnh hưởng của nó ñến sự phát Trung [17] ñô thị; lãnh thổ ñô thị triển KT-XH thành phố Cần Thơ SDð; lao ñộng và cơ cấu Tác ñộng của quá trình ñô thị hóa Trịnh Thị Hoài kinh tế; dân số và ñiều kiện ñến cơ cấu SDð nông nghiệp khu Thu [16] cơ sở vật chất vực ðông Anh - Hà Nội Dân số; mật ñộ dân số; tỷ ðánh giá ảnh hưởng của ñô thị trọng GDP nông nghiệp; tỷ hóa ñến sự thay ñổi CQ ở thành Do T.
et lệ lao ñộng lao ñộng phi phố ðà Nẵng al.1 cho thấy, các công trình nghiên cứu ñánh giá tác ñộng của ðTH ñều lựa chọn các tiêu chí liên quan ñến dân số, cơ sở hạ tầng và kinh tế ñể lượng hóa và phân tích mối quan hệ giữa ðTH với SDð, CQ và KT-XH. Ngoài ra, Nghị ñịnh số 42/2009/Nð-CP ngày 07/5/2009 của Chính phủ về việc phân loại ñô thị, quy ñịnh tiêu chí phân loại ñô thị gồm: Chức năng ñô thị; quy mô dân số; mật ñộ dân số; tỷ lệ lao ñộng phi nông nghiệp; hệ thống các công trình hạ tầng ñô thị; kiến trúc, cảnh quan ñô thị. Không gian xanh 1. Các quan ñiểm về không gian xanh Thuật ngữ "không gian xanh" là một thuật ngữ ñược sử dụng nhiều trong thời trong thời gian qua và nguồn gốc của nó ñược bắt nguồn từ phong trào bảo tồn thiên nhiên ñô thị và tư duy của châu Âu về quy hoạch KGX [55], [123].
Trong công trình nghiên của Lucy T. (2017) ñã tổng hợp 125 bài báo và chỉ ra sự ña dạng, phức tạp, không thống nhất về khái niệm về KGX. Khái niệm KGX ñược ñề xuất phụ thuộc vào cách nhìn nhận của mỗi quốc gia, các tổ chức, các nhà khoa học, lĩnh vực và ñược công nhận theo từng giai ñoạn khác nhau [125]. Theo URGE-Team.
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO): “KGX như công viên, sân thể thao cũng như rừng và các ñồng cỏ tự nhiên, ñất ngập nước hoặc các hệ sinh thái khác phải ñược coi là một thành tố cơ bản của bất kỳ hệ sinh thái ñô thị nào”[147]. 8 Ở một số quốc gia như Mỹ, KGX ñược ñịnh nghĩa là phần ñất ñai không ñược dùng ñể xây dựng [123]. Trung Quốc coi KGX là KGX cây vườn, trong ñó bao gồm công viên cây xanh, KGX nơi ở, KGX tại các ñiểm danh lam thắng cảnh và khu vực dự trữ, KGX trong sân và vành ñai giao thông. Gần ñây khái niệm này của Trung Quốc ñã ñược mở rộng không chỉ bao gồm KGX vườn mà còn rừng ñô thị, ñất nông nghiệp ñô thị, KGX mặt nước và ñất ngập nước [72].
Bên cạnh ñó, các nhà khoa học cũng có cách tiếp cận khác nhau ñối với KGX. Theo quan ñiểm của Jim C. Ở Việt Nam, khái niệm KGX hiện chưa ñược nghiên cứu một cách ñầy ñủ, trong các văn bản pháp lý thường dùng khái niệm cây xanh ñô thị. ðến năm 2013, tại Thông tư số 06/2013/-TT-BXD của Bộ Xây dựng hướng dẫn về thiết kế ñô thị ñã nêu KGX của ñô thị bao gồm “hành lang xanh, vành ñai xanh, nêm xanh, công viên hoặc rừng tự nhiên, nhân tạo trong ñô thị”[3].
Theo Nguyễn Thị Hạnh (2017), KGX “là những không gian mặt ñất, mặt nước với các ñặc ñiểm ñịa lý khác nhau ñã ñược tự nhiên hóa bởi các loài thực vật, ñộng vật” [10]. Mặc dù có sự khác biệt về ñịnh nghĩa KGX ñô thị giữa các quốc gia, nhưng ñều có ñiểm chung là: (i) Không gian ñược thống trị bởi thực vật, nghĩa là KGX phải có sự hiện diện của thực vật; (ii) Một khu vực ñịa lý chịu ảnh hưởng toàn bộ của ñô thị hoá (toàn bộ khu vực lãnh thổ, không chỉ khu vực xây dựng); Dựa trên những quan ñiểm ñược tổng quan như trên, trong phạm vi nghiên cứu của luận án, KGX ñược hiểu như sau: 9 KGX là phần diện tích bề mặt ñô thị không bao gồm ñất xây dựng công trình và ñất trống, nơi có sự hiện diện của mặt nước, có thực vật bao phủ không phân biệt thành phần, quyền sở hữu và có chức năng ñiều hòa dịch vụ sinh thái mà cư dân tiếp cận ñược. Lợi ích của không gian xanh Các học giả phương Tây quan tâm nhiều ñến chất lượng, lợi ích KGX. Một số học giả khác bị ảnh hưởng bởi các lý thuyết về phát triển bền vững ñã ñánh giá lợi ích của KGX theo ba khía cạnh: Lợi ích sinh thái hay môi trường, lợi ích xã hội và lợi ích kinh tế [52], [59].
Ngoài ra, KGX cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái giúp thích ứng và giảm thiểu rủi ro do biến ñổi khí hậu [100]. Như vậy, hệ thống KGX có ảnh hưởng rất lớn ñến các chức năng của ñô thị, giúp cải thiện chất lượng môi trường sống ñô thị. Chính sự phối hợp giữa môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo có thể tạo ra các khu vực ñịnh cư phù hợp cho con người. KGX ñô thị ñóng vai trò trong kết nối giữa con người với thiên nhiên, nó là nền tảng cho khả năng sinh sống của các thành phố [147].