CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu ngoài nước 1. Nghiên cứu hiệu quả môi trường của rừng: Trên cơ sở kết quả nghiên cứu tác động của rừng đến môi trường, nhiều tác giả đã ước tính giá trị môi trường của rừng. Chẳng hạn, ở Nga, Tarancop (1986)[23] đã ước lượng giá trị sinh thái cảnh quan của rừng ở vành đai xanh thành phố Voronhez là khoảng 70% tổng giá giá trị của rừng.
Ở Trung Quốc, Trương Gia Bình (2003) đã ước tính giá trị giữ đất, giữ nước và cung cấp phân bón của rừng ở Vân Nam là 4.450 USD/ha, chiếm 88% tổng giá trị của rừng. Khi nghiên cứu khả năng hấp thụ carbon, Zhang (2005)[24] cho rằng rừng nhiệt đới có có giá trị hấp thụ carbon từ 500 - 2.000 USD/ha, còn rừng ôn đới là 100-300 USD/ha. Ở Nhật Bản, người ta ước tính rằng giá trị môi trường của rừng ở ven những thành phố lớn lên đến tới 95% tổng giá trị của rừng v. Trong thời gian dài kết quả nghiên cứu giá trị môi trường của rừng chỉ có ý nghĩa làm tăng kiến thức của con người về hiệu quả nhiều mặt của rừng, mà chưa trở thành căn cứ cho những quyết định về biện pháp tác động vào rừng.
Chỉ trong những thập kỷ gần đây, người ta mới nhận thức được rằng một trong những nguyên nhân cơ bản của suy thoái rừng là không xác định được hiệu quả môi trường của rừng. Vì không xác định được hiệu quả môi trường của rừng nên người sản xuất không tính đến chi phí về môi trường trong hoạt động nghề rừng, cũng như không có những biện pháp cần thiết để nâng cao hiệu quả môi trường của rừng. Không xác định được hiệu quả môi trường của rừng cũng dẫn đến tình trạng không công bằng trong việc chia sẻ lợi ích liên quan đến rừng. Mọi người không phải bỏ ra bất kỳ một chi phí nào khi hưởng hiệu quả môi trường của rừng, còn người làm nghề rừng thì không nhận được những khoản thù lao cần thiết cho duy trì và phát triển LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 những lợi ích môi trường của rừng.
Điều đó đã thúc đẩy người ta sử dụng rừng một cách lãng phí, sử dụng mà không tính đến tác động môi trường của nghề rừng. Trước những hiểm hoạ sinh thái có thể xảy ra người ta ngày càng nhận thức đầy đủ hơn giá trị môi trường của rừng và sự cần thiết phải xác định nó trong một hệ thống hạch toán đầy đủ vì sự tồn tại lâu bền của con người và thiên nhiên. Những nỗ lực nghiên cứu trong việc xác định hiệu quả môi trường của rừng đã làm cho nhận thức của con người về giá trị của rừng ngày càng đầy đủ hơn, hiểu biết của con người về giá trị của rừng ngày càng rõ ràng hơn, những phương pháp xác định giá trị của rừng ngày càng hoàn thiện hơn. Nếu trước kia người ta xem giá trị của rừng chủ yếu là giá trị gỗ, thì ngày nay, người ta nhận thức được rằng khi được quản lý tốt thì tổng nguồn lợi từ những lâm sản ngoài gỗ như dầu, nhựa, sợi, lương thực, thực phẩm, dược liệu, nguyên liệu cho thủ công mỹ nghệ v.
còn lớn hơn giá trị gỗ (Balick, 1989; Beer,1992; Clark,1997; Falconer, 1989; FAO, 1991; FAO, 1998; Padua, 1999; Perez, 1999; Peter,1998)[18][19]. Đánh giá hiệu quả môi trường rừng giúp người ta từ chỗ chỉ thấy được những giá trị trực tiếp của rừng như giá trị gỗ, củi, dầu, nhựa, sợi, dược thảo v. tiến đến nhận thức được cả những giá trị gián tiếp của nó như giá trị giữ nước, giữ đất, điều hoà khí hậu, giảm nhẹ thiên tai, những giá trị về tinh thần, giá trị lịch sử, văn hoá v. Cho đến nay người ta đã áp dụng ba hình thức phổ biến để đánh giá hiệu quả môi trường của rừng là: Hình thức lý sinh, hình thức tiền tệ hóa và hình thức hỗn hợp.
Trong hình thức lý sinh người ta chủ yếu thu thập và trình bày các thông tin về sự biến đổi các nguồn tài nguyên sinh vật, tài nguyên nước, tài nguyên đất, không khí v.v… liên quan đến sự tồn tại và phát triển của rừng. Trong hình thức lý LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 sinh những biến đổi của các nguồn tài nguyên môi trường được trình bày dưới dạng những thông tin về biến động của từng thành phần cấu thành môi trường mà chưa có sự tiền tệ hoá, chưa quy những biến đổi này về cùng một đơn vị tính (Maclaren V.M, 1994)[21] Trong hình thức tiền tệ hóa người ta kết hợp sử dụng dữ liệu lý sinh với việc định giá quy đổi để tính gía trị bằng tiền cho các biến đổi về môi trường và tài nguyên thiên nhiên (Djadiningrat S. Khó khăn chủ yếu của hình thức tiền tệ hóa là định giá các biến đổi môi trường. Định giá không chính xác có thể ảnh hưởng đến phân tích những tổn thất tài nguyên môi trường và do đó có thể dẫn đến những quyết định về kinh tế xã hội không hợp lý.
Cho đến nay người ta thường áp dụng ba phương pháp để lượng giá hiệu quả môi trường: lượng giá theo thiện ý chi trả, lượng giá theo chi phí phát sinh và lượng giá theo tổn thất lợi ích (Nguyễn Thành Bang, 1995)[1] Trong hình thức hỗn hợp, hiệu quả môi trường của rừng được tiến hành với sự kết hợp của việc đưa ra những dữ liệu lý sinh, những dữ liệu xã hội và giá trị bằng tiền các tổn thất về tài nguyên môi trường. Hình thức hỗn hợp là hình thức tiền tệ hóa nhưng được bổ xung thêm các thông tin về biến đổi của các yếu tố môi trường. Đây là hình thức thường được áp dụng nhất và được xem là có ý nghĩa nhất để đưa ra những quyết định để giải quyết những vấn đề môi trường. Về phương pháp, khi đánh giá hiệu quả môi trường của rừng người ta thường áp dụng một số phương pháp chung phổ biến của đánh giá hiệu quả môi trường, bao gồm những phương pháp đơn giản và những phương pháp được định lượng hoá ở mức cao.
Các phương pháp ĐTM đơn giản: Phương pháp liệt kê số liệu môi trường LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Phương pháp danh mục các điều kiện môi trường Phương pháp ma trận môi trường pháp chập bản đồ môi trường Phương pháp sơ đồ mạng lưới Các phương pháp ĐTM được định lượng hoá ở mức cao: Phương pháp mô hình Phương pháp phân tích lợi ích chi phí mở rộng. Các phương pháp đánh giá hiệu quả môi trường thường được lựa chọn phù hợp với điều kiện về kinh phí, trình độ cán bộ và mục đích yêu cầu của việc đánh giá. Các phương pháp đánh giá cũng thường được phối hợp với nhau để nâng cao độ chính xác và mức tin cậy của kết quả đánh giá(Paul A. Đánh giá hiệu quả môi trường của rừng cao su: Cao su là một trong những loài cây trồng được phát triển ở nhiều quốc gia.
Nó không chỉ cho hiệu quả kinh tế cao mà còn cung cấp nguồn nguyên liệu chiến lược cho nhiều lĩnh vực sản xuất và đời sống. Tuy nhiên, cũng như nhiều loại rừng trồng cây nhập nội thuần loại đồng tuổi khác, rừng cao su thường bị chỉ trích về hiệu quả môi trường thấp, chẳng hạn giữ nước và bảo vệ đất kém, gây độc nước và không khí cao v.v… Trong thực tế có những ý kiến nhận định đúng nhưng cũng có những nhận định chỉ từ cảm tính, gây khó khăn cho định hướng chiến lược phát triển cao su. Đây là thực tiễn khách quan đòi hỏi phải tổ chức những nghiên cứu về hiệu quả môi trường của rừng cao su. Ở Trung Quốc từ kết quả nghiên cứu của Wang Xianpu cho thấy rừng cao su có khả năng bảo vệ đất và nước tốt hơn nhiều mô hình rừng thuần loài khác.
Dưới rừng cao su ở Hải Nam có mức đa dạng sinh học tương đối cao. Nghiên cứu của Hong Mei Liu, Ju Sheng Jiang và huang Lin Dong (2006)[25] đã phát hiện được LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 dưới rừng cao su có tới 207 loài cây có mạch thuộc 113 giống và 61 họ, trong đó chiếm ưu thế nhất là loài cỏ chịu bóng. Mức độ đa dạng sinh học rất khác nhau phụ thuộc vào lượng mưa, độ phì của đất, và tuổi của cây cao su. Lượng mưa càng lớn thì mức độ đa dạng sinh học càng cao.
Người ta cũng nhận thấy sự đa dạng sinh học giảm dần theo tuổi rừng cao su. Ở Singapore kết quả nghiên cứu của trường đại học Quốc gia cũng cho thấy xói mòn đất và dòng chảy mặt dưới rừng cao su đều ở mức thấp, xói mòn dao động ở mức 2-3 tấn/ha/năm, lớp dòng chảy mặt dao động ở mức 200-300mm/năm, tất cả đều nhỏ hơn tới 20 lần so với xói mòn và dòng chảy trên đất nương rẫy. Những ảnh hưởng cụ thể của việc trồng cao su đến đa dạng sinh học vẫn còn chưa được nghiên cứu rõ ràng (Donald 2004)[17]. Trong khi sự đa dạng sinh học ở rừng trồng thấp hơn rừng tự nhiên, có bằng chứng cho rằng rừng trồng cao su theo kiểu nông lâm kết hợp có thể làm tăng mức độ đa dạng sinh học.
Aiken (1982) khi nghiên cứu về tác động môi trường rừng Cao su ở Bán đảo phía tây Singapo đã nhận thấy những hiệu quả thấp về giữ nước và bảo vệ đất của rừng trồng cao su. Ông kết luận rằng quá trình trồng cao su sẽ không tránh khỏi sự gia tăng dòng chảy mặt và xói mòn đất. Xói mòn đất càng trở nên nghiêm trọng hơn khi người trồng cao su tiến hành phát dọn sạch thực bì dưới tán rừng. Có thể kể tên một số tác giả nghiên cứu về khả năng bảo vệ môi trường của rừng cao su như Gao Suhua (1985), Wu Eryu (1984), Chen Yongshan (1982) đã điều tra hiệu quả bảo vệ đất và nước của các đồn điền cao su ở Trung Quốc.
Nhìn chung các tác giả trên thế giới chủ yếu tiến hành nghiên cứu sơ bộ đặc điểm hệ sinh thái rừng cao su và chức năng sinh thái của chúng. Một số tác động khác tới môi trường của hệ sinh thái này vẫn chưa được làm rõ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Về phương diện sinh thái, người ta thấy cao su thích hợp nhất với khí hậu vùng xích đạo đới hay nhiệt đới. Cây đòi hỏi nhiệt độ trung bình từ 220C - 300C (thích hợp nhất là từ 260C - 280C)`, lượng mưa tối thiểu là 1.500mm/năm và có thể chịu hạn được nhiều tháng trong mùa khô.