Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Những nghiên cứu trên thế giới 1. Những nghiên cứu về cấu trúc rừng trồng a, Nghiên cứu quy luật phân bố số cây theo đường kính Một dạng đường cong giảm liên tục đã được Meyer (1952) phát triển để mô tả phân bố N/D, sau này quy luật phân bố này đã được một số tác giả trên thế giới ứng dụng trong các nghiên cứu cho các loại rừng. Khi nghiên cứu 19 ô tiêu chuẩn với 60 loài cây rừng ở Maranhoo – Brazin, Batista, J.Z (1992) (dẫn theo Hoàng Văn Dưỡng, 2001) để mô tả N/D cho dạng rừng trồng thuần loài, đều tuổi cho thấy, phân bố Weibull là phù hợp hơn cả vì phân bố này có dạng một đỉnh, lệch trái phù hợp với quy luật phân bố số cây theo đường kính dưới dạng phân bố xác suất và thường được sử dụng.
Cùng với đó, Balley (1973) cũng sử dụng hàm Weibull, Schiffel biểu thị đường cong cộng dồn phần trăm số cây bằng đa thức bậc ba cho phân bố đường kính của rừng thuần loài, đều tuổi sau khi khép tán. J (1973) đã sử dụng đường kính bình quân lâm phần và đường kính tán, Dmin để xác định các tham số của hàm Weibull với giả thiết các chỉ tiêu này có liên hệ mật thiết với A, N lâm phần. b, Nghiên cứu quy luật phân bố số cây theo chiều cao Quy luật cấu trúc bao gồm nhiều quy luật tồn tại khách quan trong rừng nhưng quan trọng nhất là các quy luật: Cấu trúc đường kính, cấu trúc chiều cao phân bố rừng, quan hệ giữa đường kính tán (Dt) và đường kính ngang ngực (D1,3), Schiffel, A. Isagi (1997) khi xây dựng quan hệ giữa chiều cao và đường kính cho rừng Sồi trong Rừng quốc gia ở Kyoto, Nhật Bản cho thấy tốc độ tăng trưởng chiều cao của cây sớm hơn được khích thích bởi mức độ chiếu xạ cao và ngược lại.
Sự tăng trưởng chiều cao và tăng trưởng đường kính có thể hình thành mối quan hệ quan trọng. Hơn nữa, mặc dù sự thay đổi trong mối quan hệ đường kính-chiều cao thân cây theo thời gian cũng ảnh hưởng đến động thái mật độ cây rừng. Ngoài ra, việc vẽ các phẫu đồ đứng về cấu trúc tầng tán, phân bố số cây theo chiều thẳng đứng của rừng cũng là một phương pháp đơn giản để biểu diễn mối quan hệ giữa tăng trưởng chiều cao và tăng trưởng đường kính trung bình đã được xây dựng để làm cơ sở cho biện pháp chăm sóc, tỉa thưa rừng. c, Nghiên cứu quy luật tương quan * Quy luật tương quan H/D Qua nhiều nghiên cứu của các tác giả đi trước cho thấy mối tương quan giữa chiều cao và đường kính là một tương quan chặt chẽ.
Theo quy luật sinh trưởng của cây rừng khi tuổi tăng lên thì đường kính và chiều cao cũng tăng lên. Tuy nhiên quy luật này chỉ tồn tại trong một giới hạn cho phép của cây rừng trong quá trình sinh trưởng. Trong các lâm phần rừng tự nhiên hay rừng trồng, khi tuổi cây rừng tăng lên thì tỷ lệ giữa chiều cao và đường kính thân cây cũng tăng. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trong quá trình sinh trưởng của rừng thì giữa đường kính và chiều cao cây có quan hệ chặt chẽ và liên quan đến tuổi và mật độ lâm phần, do vậy các đường cong biểu thị quan hệ H/D có thể bị thay đổi và tăng dần lên trên khi tuổi tăng.
Có rất nhiều các hàm toán học để mô tả mối quan hệ này như hàm bậc nhất, bậc hai, hàm mũ, Parabon,. (1967) đã đề nghị các dạng phương trình dưới đây: 4 h = a +b1d +b2d2 (1.7) Tuy nhiên trong lâm phần, cả nhóm cây bị chèn ép và nhóm cây chiếm ưu thế đều cho thấy khả năng tăng tốc về tăng trưởng chiều cao ở các tuổi khác nhau. Sự biến động trong quan hệ H/D theo sự tăng trưởng có thể được cho bởi những thay đổi điều kiện ánh sáng theo thời gian và điểm uốn của quỹ đạo giữa phép đo tương quan giữa chiều cao và đường kính trung bình cũng thay đổi. Các kiểu phát triển thân cây quan sát được của từng cây có thể giải thích những thay đổi theo trình tự thời gian trong mối quan hệ đường kính- chiều cao của quần thể và làm cơ sở cho kỹ thuật chăm sóc rừng.
I (1930), lấy cấp đất làm cơ sở nghiên cứu quan hệ H/D. Từ các cấp đất khác nhau làm cơ sở để xây dựng một đường cong H bình quân ứng với mỗi cỡ kinh để có được dãy tương quan theo loài và cấp chiều cao. Từ đó dùng dùng phương trình toán học để nắn quan hệ H/D theo loài cây và cấp chiều cao. Điển hình của nghiên cứu này là của tác giả Gehrhardt và Kopetxki: Hg = a + b*g (1.8) Khi xây dựng mô hình tuyến tính giữa H và D tác giả Krauter, G (1958) và Tiourin, A.V (1931) đã sử dụng cấp đất và cấp tuổi làm căn cứ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, quan hệ giữa đường kính và chiều cao của lâm phần đã phản ánh rõ cả những tác động của hoàn cảnh và tuổi (dẫn theo Hoàng Văn Dưỡng, 2001). 5 Trong kinh doanh rừng trồng thuần loài và cùng tuổi có thể sử dụng các phương trình khác nhau để mô tả quy luật H/D, tuy nhiên không phải lúc nào cũng có thể tìm ra phương trình phù hợp để biểu thị cho mối quan hệ này bởi quan hệ giữa các cá thể cây rừng trong lâm phần là rất phức tạp và luôn có sự thay đổi bởi các yếu tố tác động như: mật độ, công tác chăm sóc, thiên tai, sâu bệnh hai,. nên khi sử dụng các hàm mô tả quan hệ H/D với tuổi sẽ khó khăn. * Quy luật tương quan Dt/D1,3 Đường cong mô tả đường kính tá của cây có xu hướng phân kỳ theo tuổi so với đường cong đường kính bình quân lâm phần bởi khi cây rừng lớn lên các chỉ số về đường kính tá, đường kính tại ví trí 1,3 và chiều cao vút ngọn, chiều cao dưới cành có sự thay đổi trong từng cây cá lẻ và cả lâm phần.
Do vậy việc xác định không gian sống có ý nghĩa quan trọng để thay đổi thời gian chăm sóc, tỉa cành, tỉa thưa mật độ cây đứng nhằm tận dụng triệt để không gian dinh dưỡng và thay đổi cấu trúc của quan hệ Dt/D1,3 của cây. Một số nghiên cứu của Cromer O. D (1948), Wiilingham (1948) (dẫn theo Hoàng Văn Dưỡng, 2001) về tương quan giữa Dt với D1,3 ở một số loài cây trên thế giới cho thấy, có thể sử dụng các hàm tuyến tính (bấc nhất, bậc hai, Prapon,.) để xây dựng quan hệ này và thấy rằng có ý nghĩa trong nghiên cứu và thực tiễn. Những nghiên cứu về sinh khối Lihu Dong and Fengri Li (2021) khi tiến hành nghiên cứu quần thể Thông ba lá (Pinus koraiensis) tự nhiên ở vùng đông bắc Trung Quốc cho thấy, để nghiên cứu sinh khối và tích lũy các bon đã tiến hành chặt cây tiêu chuẩn và xây dựng phương trình tuyến tính giữa sinh khối và các bon từng bộ phận với nhân tố điều tra lâm phần (D, H).
Kết quả cho thấy rằng có mối quan hệ mật thiết giữa chiều cao (H) và đường kính thân cây (D) với sinh khối và tích lũy các bon cây cá lẻ và toàn lâm phần, trong đó thân cây chiếm tỷ lệ sinh khối và các bon cao nhất; tiếp đến là rễ dao động từ 0,18- 6 0,35 tấn/ha. Các mô hình này được sử dụng nhằm ước tính sinh khối cây riêng lẻ Thông (Pinus koraiensis) một cách chính xác hơn phục vụ công tác kiểm kê rừng ở Trung Quốc. Trong đó, sinh khối rễ cao nhất ở tầng đất sâu 0 - 20 cm, và tăng nhiều nhất giữa rừng trưởng thành (0,34 tấn/ha) và rừng già (1,08 tấn/ha) ở hai tầng đất. Ngoài ra, mô hình phân bố rễ của bốn kiểu rừng là khác nhau ở bốn cấp đường kính, trong đó ở rừng non và rừng già tỷ lệ rễ mịn (0 - 2 mm) và rễ nhỏ (2 - 5 mm) lớn hơn, và tổng tỷ lệ của chúng tương ứng là 87,43% và 79,32%, trong khi cấp kính càng lớn thì tỷ trọng càng nhỏ.
Ở rừng trưởng thành và rừng già, tỷ lệ sinh khối của rễ giữa từ 5 - 10 mm và trên 10 mm bắt đầu tăng so với ở rừng non và rừng già, sinh khối của rễ giữa tăng lên nhiều nhất giữa rừng trưởng thành (0,75 tấn/ha) và rừng già (1,94 tấn /ha), và sinh khối của rễ tăng nhiều nhất giữa rừng tuổi trung niên (0,32 tấn/ha) và rừng trưởng thành (2,72 tấn/ha). Nhìn chung, tổng sinh khối của bộ rễ tăng dần khi tuổi rừng tăng dần. Sinh khối của rễ giảm dần theo sự phát triển của chiều sâu đất. Kết quả phân tích phương sai cho thấy, ảnh hưởng của độ sâu đất đến sinh khối rễ là cực kỳ có ý nghĩa (F = 13,903, P <0,01), trong khi ảnh hưởng của tuổi rừng đến sinh khối rễ là không đáng kể (F = 1,530, P = 0,226).
al, (2019) khi nghiên cứu đặc điểm sinh khối của rừng trồng Thông mã vĩ (Pinus massoniana Lamb) ở tỉnh Hồ Bắc, miền Trung Trung Quốc đã cho thấy, tuổi lâm phần và công tác quản lý rừng trồng có ảnh hưởng đến sinh khối của cây. Nghiên cứu được thực hiện ở các tuổi 9, 18, 28 và 48, 7 và được phân chia thành các lâm phần được quản lý chăm sóc và không được quản lý chăm sóc. Mô hình tăng trưởng chỉ ra rằng, tốc độ tăng trưởng của cây cao nhất khi rừng trồng ở tuổi 17 và tốc độ tăng trưởng trung bình khi rừng trồng ở tuổi 23. Sinh khối cây trong lâm phần được quản lý chăm sóc lớn hơn 9,75% so với sinh khối trong những lâm phần không được quản lý, chăm sóc.
Từ kết quả này, tác giả đề xuất một số giải pháp để nâng cao năng suất và chất lượng rừng Thông tại khu vực nghiên cứu. Meta Francis Justine. al, (2015) khi nghiên cứu sinh khối và tích lũy carbon theo ở các tuổi (3, 5, 7, 9, 12,15, 19, 29, 35 và 42) của các lâm phần Thông mã vĩ (Pinus massoniana Lamb) ở vùng Thượng lưu sông Dương Tử cho thấy, sinh khối rừng trồng tăng lên khi tăng tuổi lâm phần, dao động từ 0,84 tấn/ha trong lâm phần tuổi 3 lên 252,35 tấn/ha trong lâm phần tuổi 42. Sinh khối trên mặt đất (AGB) đóng góp 86,51%; giá trị lớn nhất gấp 300 lần giá trị nhỏ nhất.