CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học 1. Công ước Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu Đó là hiệp định LHQ làm ổn định các khí nhà kính trong khí quyển ở một mức mà có thể ngăn chặn và hạn chế những biến đổi xấu của khí hậu. Công ước LHQ về biến đổi khí hậu đó được thông qua trong hội nghị thượng đỉnh về trái đất được tổ chức tại Rio de Janerio, 1992.
Để đưa công ước này vào hoạt động, tháng 12/1997 Nghị định thư Kyoto đã được đưa ra bàn về giới hạn khí gây hiệu ứng nhà kính, và hiện nay công ước này đang được cụ thể hoá. Nghị định thư Kyoto cho phép các nước phát triển đạt được mục tiêu/chỉ tiêu phát thải thông qua 3 cơ chế linh hoạt, gồm: Buôn bán lượng chi tiêu phát thải giữa các nước phát triển với nhau; cùng tham gia thực hiện (chuyển nhượng các chi tiêu phát thải giữa các nước phát triển, được kết nối với các dự án giảm phát thải cụ thể); cơ chế phát triển sạch: (CDM - Clean Development Mechanism) là một trong 3 cơ chế linh hoạt của Nghị định thư Kyoto. Một trong những nội dung của Nghị định thư Kyoto là đưa vào áp dụng các cơ chế gồm: “Cơ chế Đồng thực hiện (JI - Joint Implementation)”; “Cơ chế phát triển sạch (CDM - Clean Development Mechanism)”, và “Cơ chế thương mại phát thải (ET - Emissions trading)”(dẫn theo Phạm Xuân Hoàn - 2005 [3]). Mục đích của CDM là giúp các bên không thuộc phụ lục I (các nước đang phát triển) đạt được sự phát triển bền vững và đóng góp vào mục tiêu của Công ước, đồng thời giúp các nước phát triển đạt được sự tuân thủ các chỉ tiêu giảm phát thải khí nhà kính.
Cơ chế CDM cho phép các nước đang phát triển đạt được một phần mục tiêu giảm phát thải bắt buộc của họ thông qua các dự án trồng rừng tại các nước đang phát triển, mà sẽ làm giảm lượng phát thải hoặc hấp thụ khí CO2 từ khí quyển. n 5 Đến năm 2004 đã có 16 dự án về cố định cacbon qua việc trồng mới và tái trồng rừng được thực hiện, trong đó châu Mỹ - Latinh có 4 dự án, châu Phi có 7 dự án, châu Á có 5 dự án và 1 dự án liên quốc gia được thực hiện tại các nước Ấn Độ, Brazil, Jordan và Kenya (FAO, 2004) [17]. Tại Mexico một dự án đang được thực hiện, mục tiêu của dự án là cung cấp 18.000 tấn CO2/năm với giá 2,7 USD/tấn, dự án đã tập hợp trên 400 thành viên thuộc trên 33 cộng đồng của 4 nhóm dân tộc thiểu số tham gia với nhiều hệ thống nông-lâm kết hợp khác nhau. Kết quả của dự án đã làm tăng lượng cacbon tích luỹ, tăng cường năng lực cộng đồng, khuyến khích phát triển các hệ thống sản xuất nông nghiệp bền vững và góp phần bảo tồn đa dạng sinh học (Phạm Xuân Hoàn, 2005) [3].
Tại Ấn Độ, một dự án nâng cao cố định cacbon đang được thực hiện trong thời gian 50 năm, theo tính toán, khi kết thúc dự án có thể cố định được từ 0,4-0,6 Mt cacbon, trong đó sau 8 năm, mỗi ha có thể cố định được 25,44 tấn, sau 12 năm có thể cố định được 41,2 tấn và sau 50 năm có thể cố định được 58,8 tấn (tương đương khoảng 3 tấn C/ha). Tây Phi thông qua việc tăng cường khả năng cố định cacbon của tràng cỏ Savannah (FAO, 2004) [18]. Nhìn chung, mục tiêu của các dự án về khả năng cố định cacbon biến động rất lớn, từ 7 tấn/ha trong dự án tại vườn quốc gia Noel Kempf Mercado ở Bolivia đến 129 tấn/ha trong dự án thực hiện tại vùng Andean ở Ecuador (FAO, 2004) [17]. Quá trình quang hợp ở thực vật Quang hợp là quá trình biến đổi chất vô cơ thành chất hữu cơ cấu thực vật có diệp lục.
Dưới tác dụng của ánh sáng mặt trời. Phương trình quang hợp của thực vật như sau: 6CO2 + 6H2O = C6H12O6 + 6O2 + Q. Đây chính là phương trình chứng minh khả năng hấp thụ khí CO2 của thực vật có chứa diệp lục. Quang hợp là quá trình mà cơ thể thực vật biến đổi năng lượng ánh sáng mặt trời thành năng lượng hóa học dưới dạng hợp chất hữu cơ.
Bản chất của quá n 6 trình quang hợp là sự khử khí CO2 đến Hydratcacbon với sự tham gia của năng lượng ánh sáng mặt trời do sắc tố của thực vật hấp thu. Ý nghĩa cơ bản của quá trình quang hợp là lấy năng lượng tự do từ môi trường xung quanh rồi tích lũy nó dưới dạng các phân tử hữu cơ bền vững. Vai trò có một không hai của quang hợp là làm cho CO2 (sản phẩm cuối cùng của sự phân giải các hợp chất hữu cơ) quay trở lại đi vào chu trình các chất trong tự nhiên tạo thành chất hữu cơ ban đầu. Không có điều đó thì không tồn tại sự sống.
Thị trường các bon Tháng 8 năm 2001 thị trường về mua bán chỉ tiêu phát thải khí nhà kính đã được khai trương ở London. Tại thị trường này trước tiên có 6 loại khí nhà kính sẽ được giao dịch trong đó quan trọng nhất là khí Cacbon dioxit (C02). Đơn vị đo các loại hàng hóa khí thải nhà kính trên thị trường được tính theo tấn khí CO2 và khối lượng quy đổi của các loại khí khác. Hiện tại, khách hàng tham gia thị trường quốc tế tại London về chỉ tiêu phát thải khí nhà kính gồm 34 tập đoàn và hơn 6000 doanh nghiệp nhỏ.
Tháng 12/2009 công ty cổ phần Tài chính Dầu khí Việt Nam (PVFC) đưa ra bán đấu giá 350.000CERS từ dự án thu hồi và sử dụng khí đồng hành mỏ Rạng Đông là dự án phát triển sạch đầu tiên được chứng nhận giảm phát thải [17]. Tháng 4/2010 Tokyo đã khởi động chương trình buôn bán phát thải khí các bon. trong chương trình này 1400 tổ chức chuyên sâu về năng lượng và các bon của thành phố này phải đáp ứng các mục tiêu giảm thải ràng buộc về mặt pháp lý. Giai đoạn đầu của chương trình này kéo dài tới năm 2014, trong thời gian đó, các tổ chức tham gia sẽ phải cắt giảm phát thải các bon ở mức 6%.
Những tổ chức nào không thể hoạt động trong hạn mức phát thải cho phép kể từ năm 2011 sẽ phải mua giấy phép xả thải đề bù đắp lượng phát thải vượt quá hoặc đầu tư vào các chứng chỉ năng lượng tái tạo hay các tín dụng các bon. Những công ty nào không tuân theo các quy định mới sẽ nộp phạt và n 7 bị chính phủ lên án, những đơn vị nào không hoạt động trong hạn mức phát thải sẽ bị ra lệnh cắt giảm phát thải 1,3 lần so với mức ban đầu trong suốt giai đoạn đầu tiên của chương trình [18]. Theo nguồn tin từ Công ty phân tích thị trường Point Cacbon có trụ sở tại Na Uy cho thấy sự phát triển vượt bậc cả về quy mô và giá trị giao dịch của thị trường Cacbon. Năm 2005 giá trị giao dịch của thị trường tài chính Cacbon đạt 10,908 tỷ 10USD với khối lượng giao dịch khoảng 0,718 tỷ tấn, năm 2006 đạt 31,235 tỷ USD với khối lượng 1,745 tỷ tấn, đến năm 2007 con số này đã đạt đến mức 64,035 tỷ USD cho 2,983 tỷ tấn và năm 2008 đã tăng đến mức 126,345 tỷ USD cho mức giao dịch của 4,811 tỷ tấn.
Năm 2009 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính nên giá trị giao dịch của thị trường Cacbon giảm, với khối lượng 8,2 tỷ tấn khí thải CO2 đã được trao đổi trên thị trường mua bán hạn ngạch khí thải thế giới với giá trị giao dịch khoảng 135 tỷ USD [33]. Công cụ đánh giá nhanh trữ lượng Các bon (RaCSA) RaCSA [33] là một trong 6 công cụ thuộc gói công cụ TUL-SEA hỗ trợ đàm phán trong quản lý tổng hợp tài nguyên thiên nhiên. Các công cụ này được áp dụng tại 6 nước Đông Nam Á và Trung Quốc, trong đó có Việt Nam. Công cụ RaCSA được thiết kế nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản phù hợp với hoàn cảnh địa phương nhằm hỗ trợ thảo luận giữa các bên liên quan.
Công cụ này giúp lượng hoá tích luỹ C một cách khoa học, ngoài ra công cụ này còn hỗ trợ những hoạt động xoá đói giảm nghèo và cải thiện sinh kế cho người dân vùng nông thôn. RaCSA là công cụ đánh giá nhanh với chi phí thấp nhằm mục đích: - Cung cấp số liệu tin cậy về dự trữ C tại một cảnh quan cụ thể cung cấp số liệu về thay đổi khí thải trong quá khứ và những tác động của thay đổi hiện trạng sử dụng đất đối với khí thải, không áp dụng hoặc áp dụng những can thiệp cụ thể đối với sự phát triển hoặc bảo tồn dự trữ C. n 8 - Xác định những vấn đề cơ bản trong mối tương quan giữa dự trữ C và sinh kế, cơ hội để đạt được sự phát triển bền vững hơn. - Cải thiện sự hiểu biết chia sẻ giữa các bên liên quan hướng tới FPIC (những nguyên tắc về đồng thuận tự do và sẵn có) trong hợp đồng nhằm phát triển hoặc duy trì dự trữ C.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Nghiên cứu sinh khối và năng suất rừng Sự tăng trưởng sinh khối gắn liền với tích luỹ các bon của cây rừng, để nghiên cứu trữ lượng các bon của rừng hấp thụ được thì bước đầu tiên là nghiên cứu sinh khối rừng.Đầu thế kỷ 19 đã có những nghiên cứu về sinh trưởng và dự đoán sản lượng rừng, tiêu biểu như Baur, Breymann, Danckemam, Weise. Mỗi tác giả đều có cách tiếp cận và giải quyết vấn đề khác nhau nhưng đều tìm hiểu về những quy luật sinh trưởng, mối quan hệ giữa sinh trưởng và sản lượng rừng vào không gian dinh dưỡng, quy luật kết cấu lâm phần, đặc tính di truyền của mỗi loài cây và mô phỏng bằng mô hình toán học. Từ các công trình đó đã đưa ra kết luận rằng sinh trưởng, tăng trưởng, sinh khối có quan hệ chặt chẽ với nhau và phụ thuộc vào chiều cao, đường kính.
- Xác định trữ lượng cácbon bằng cách sử dụng hệ số mặc định về trữ lượng Cacbon trong sinh khối khô là 0,5 (IPCC, 2005), và lượng các bon tương đương theo hệ số quy đổi 1C = 3,67 CO2. Sự tăng trưởng sinh khối gắn liền với tích lũy các bon của cây rừng, để nghiên cứu trữ lượng các bon của rừng hấp thu được thì bước đầu tiên là nghiên cứu sinh khối rừng. Liebig (1862) đã định lượng về sự tác động của thực vật tới không khí, sau đó Mitscherlich E.