Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của nghiên cứu 1. Công ước liên hợp quốc về biến đổi khí hậu Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về Biến đổi Khí hậu (United Nations Framework Convention on Climate Change, UNFCCC hoặc FCCC) là một hiệp ước quốc tế về môi trường được đàm phán tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Môi trường và Phát triển (UNCED), thường được gọi là Hội nghị Thượng đỉnh Trái Đất diễn ra tại Rio de Janeiro từ ngày 3 đến 14 tháng 6 năm 1992. Mục tiêu của hội nghị là "ổn định các nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được sự can thiệp nguy hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu".
Bản thân công ước này không ràng buộc giới hạn phát thải khí nhà kính cho các quốc gia đơn lẻ và không bao gồm cơ chế thực thi. Do đó công ước này là không bắt buộc về mặt pháp lý. Thay vào đó công ước cung cấp một bộ khung cho việc đàm phán các hiệp ước quốc tế cụ thể (gọi là "nghị định thư") có khả năng đặt ra những giới hạn ràng buộc về khí nhà kính. UNFCCC được mở ra để ký kết từ 9 tháng 5 năm 1992, sau khi một Ủy ban Đàm phán Liên chính phủ xây dựng văn bản của công ước khung như một báo cáo theo sau cuộc họp tại New York từ ngày 30 tháng 4 đến 9 tháng 5 năm 1992.
Nó bắt đầu có hiệu lực ngày 21 tháng 3 năm 1994. Tính đến nay, UNFCCC đã có 194 nước phê chuẩn công ước này. Các bên tham gia Công ước gặp mặt hằng năm từ năm 1995 tại Hội nghị các bên (COP) để đánh giá tiến trình đối phó với biến đổi khí hậu. Năm 1997, Nghị định thư Kyoto được ký kết đã tạo ra những nghĩa vụ ràng buộc pháp lý cho các quốc gia phát triển nhằm cắt giảm khí thải nhà kính của họ.
Các thỏa thuận Cancun năm 2010 tuyên bố rằng sự ấm lên toàn cầu trong m 5 tương lai cần được giới hạn dưới 2,0 °C (3,6 °F) tương đương với mức tiền công nghiệp. Mới đây nhất, Hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc năm 2021 (tiếng Anh: 2021 United Nations Climate Change Conference), thường được biết đến nhiều hơn với tên viết tắt COP26 là Hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc lần thứ 26. Hội nghị được lên kế hoạch tổ chức tại Trung tâm SEC ở Glasgow, Scotland, Vương quốc Anh vào ngày 31 tháng 10 đến ngày 13 tháng 11 năm 2021 dưới sự chủ trì của Alok Sharma. Hội nghị đã bị trì hoãn trong một năm bởi Đại dịch COVID-19.
Đây là Hội nghị (COP) lần thứ 26 của các bên tham gia Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu và cuộc họp thứ ba của các bên tham gia Thỏa thuận Paris. Đây là lần đầu tiên các bên dự kiến sẽ cam kết nâng cao tham vọng hướng tới giảm thiểu biến đổi khí hậu kể từ COP21. Các bên được yêu cầu thực hiện 5 năm một lần như được nêu trong Thỏa thuận Paris, một quy trình thường được gọi là 'cơ chế bánh cóc' để làm mới các cam kết quốc gia. Mục tiêu quan trọng của các nhà tổ chức hội nghị là kiểm soát được việc nhiệt độ ấm thêm 1,5॰ C.
Theo các nhà đàm phán của BBC, những người có thể là chìa khóa của cuộc đàm phán này bao gồm Giải Chấn Hoa, Ayman Shasly, Sheikh Hasina và Teresa Ribera. Lãnh đạo của hơn 100 quốc gia với khoảng 85% diện tích rừng trên thế giới bao gồm Canada, Nga, Cộng hòa Dân chủ Congo và Hoa Kỳ, đã đồng ý chấm dứt nạn phá rừng vào năm 2030 theo thỏa thuận tương tự năm 2014,trong đó bao gồm Brazil, Indonesia, các doanh nghiệp và nhiều nguồn lực tài chính hơn. Các chữ ký đồng thuận thỏa thuận Tuyên bố New York về Rừng năm 2014 cam kết giảm một nửa nạn phá rừng vào năm 2020 và chấm dứt vào năm 2030, tuy nhiên trong giai đoạn 2014-2020, nạn phá rừng đã tăng cao hơn. Vào ngày 9 tháng 11, Trình m 6 theo dõi khí hậu đã báo cáo rằng các mục tiêu hiện tại cho đến năm 2030 vẫn "hoàn toàn không đủ", điều khiến nền văn minh nhân loại toàn cầu phải theo dõi sự tăng nhiệt độ thêm 2.4 °C của hệ thống Trái đất.
Họ đã đánh giá các cam kết của tổng cộng 40 quốc gia trong đó chiếm 85% các cam kết cắt giảm xả thải ròng bằng 0, trong đó các quốc gia chỉ chiếm 6% lượng khí thải toàn cầu - các quốc gia Châu Âu, Anh, Chile và Costa Rica - cam kết các mục tiêu được xem là "có thể chấp nhận được" về tính toàn diện, cũng như đã có các kế hoạch chính sách chi tiết rõ ràng mô tả các bước cùng cách thức đạt được các mục tiêu đó. Cơ chế phát triển sạch (CDM) và thị trường Carbon 1. Cơ chế phát triển sạch (CDM) Cơ chế phát triển sạch (CDM - Clean Development Mechanism) là cơ chế hợp tác được thiết lập trong khuôn khổ nghị định thư Kyoto (Nhật Bản) tháng 12 năm 1997, Nghị định thư đã thiết lập một khuôn khổ pháp lý mang tính toàn cầu cho các bước khởi đầu nhằm kiềm chế và kiểm soát xu hướng gia tăng phát thải khí nhà kính đưa ra các mục tiêu giảm phát thải chính và thời gian thực hiện cho các nước phát triển, theo đó các nước phát triển (các nước công nghiệp) hỗ trợ, khuyến khích các nước đang phát triển thực hiện các dự án thân thiện với môi trường, nhằm phát triển bền vững. Cơ chế này đóng vai trò rất quan trọng đối với các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, nó cho phép các nước phát triển đạt được các chỉ tiêu về giảm phát thải khí nhà kính bắt buộc thông qua đầu tư thương mại các dự án trồng rừng tại các nước đang phát triển, nhằm hấp thụ khí CO2 từ khí quyển và làm giảm lượng phát thải khí nhà kính.
Có 2 phương thức CDM, đó là CDM cho giảm khí nhà kính (CDM thông thường hay CDM năng lượng) và CDM cho hấp thụ khí nhà kính bằng các bể hấp thụ (Trồng rừng/ Tái trồng rừng theo CDM hay AR-CDM). m 7 CDM là một trong 3 cơ chế linh hoạt của Nghị định thư Kyoto, trong đó nó cho phép các nước phát triển đạt được các chỉ tiêu về giảm phát thải khí nhà kính bắt buộc thông qua đầu tư thương mại các dự án trồng rừng tại các nước đang phát triển, nhằm hấp thụ khí CO2 từ khí quyển và làm giảm lượng phát thải khí nhà kính. Hiện tại các nước đang phát triển chưa phải bắt buộc hạn chế mức phát thải, do mức phát thải của họ còn thấp so với chỉ tiêu. Bằng cách phối hợp với các nước phát triển để đầu tư triển khai các dự án CDM, họ sẽ đóng góp làm giảm lượng phát thải toàn cầu.
Các dự án CDM có 2 mục tiêu bao trùm chính, đó là: • Nhằm giúp đỡ các nước đang phát triển, nơi sẽ thực hiện các dự án CDM đạt được mục tiêu phát triển bền vững. • Nhằm cung cấp cho các nước phát triển “cơ hội linh hoạt” để làm giảm chỉ tiêu phát thải khí nhà kính, và cho phép họ thu được các chứng chỉ giảm phát thải từ các dự án CDM đầu tư tại các nước đang phát triển. Thị trường Carbon Những hoạt động của con người ngày càng gia tăng cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội đã và đang dẫn đến những tác động tiêu cực đối với hệ thống khí hậu toàn cầu. Tại hội nghị thượng đỉnh về môi trường và phát triển tại Brazil năm 1992, 155 quốc gia đã ký kết Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC).
Tháng 12 năm 1997, Nghị định thư Kyoto được thông qua đã thiết lập một khuôn khổ pháp lý mang tính toàn cầu cho các bước khởi đầu nhằm kiềm chế và kiểm soát xu hướng gia tăng phát thải khí nhà kính, đưa ra mục tiêu giảm 6 loại khí nhà kính gồm: CO2, CH4, N2O, HFCs, PFCs, SF6 và thời gian thực hiện cho các nước phát triển. Đặc biệt nghị định thư đã đưa một số cơ chế linh hoạt nhằm giúp cho bên bị ràng buộc bởi các cam kết có thể tìm giải pháp giảm khí phát thải ra bên ngoài phạm vi địa lý của quốc gia mình m 8 với chi phí chấp nhận được, bao gồm: Cơ chế đồng thực hiện (Jiont Implementation - JI); Cơ chế buôn bán quyền phát thải (International Emissions Trading - IET); Cơ chế phát triển sạch (Clean Development Mechanism - CDM). Với cơ chế phát triển sạch CDM của Nghị định thư Kyoto mở ra cơ hội cho các nước đang phát triển trong việc tiếp nhận đầu tư từ các nước phát triển để thực hiện các dự án về quản lý bảo vệ rừng, trồng rừng và phục hồi rừng, hạn chế tình trạng chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp sang các loại đất khác, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng nông lâm kết hợp. Tại Hội nghị đa dạng sinh học (CBD 2000) xác định sự quan tâm của xã hội đã tăng lên liên quan tới CDM và cộng đồng địa phương là một phần không thể thiếu trong hệ sinh thái rừng và cần phải tôn trọng quyền và những mối quan tâm của họ.
Nó giúp cho người dân địa phương có thể có những thuận lợi hơn trong thị trường mới với nhiều cơ hội về nhu cầu gỗ và lâm sản ngoài gỗ ở các quốc gia đang phát triển được chứng nhận dịch vụ gỗ và môi trường không có carbon (Scheer, 2002). Các loại dịch vụ môi trường rừng hiện nay gồm: Bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối; Điều tiết, duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội; Hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng; giảm phát thải khí nhà kính từ hạn chế mất rừng và suy thoái rừng, quản lý rừng bền vững, tăng trưởng xanh; Bảo vệ, duy trì vẻ đẹp cảnh quan tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học hệ sinh thái rừng cho kinh doanh dịch vụ du lịch; Cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn, con giống tự nhiên, nguồn nước từ rừng và các yếu tố từ môi trường, hệ sinh thái rừng để nuôi trồng thủy sản (Điều 61 Luật Lâm nghiệp năm 2017) thì cơ chế đền bù cho thị trường carbon là cao hơn cả, thậm chí rừng carbon được xem là một đóng góp quan trọng trong giảm nghèo.