Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Rừng có vai trò rất quan trọng trong sự điều tiết CO2 trong khí quyển, chúng được ví như bể hấp thụ loại khí này. Hàng năm, nhờ quang hợp thực vật đã tạo ra trên trái đất 150 tỷ tấn sinh khối, hấp thụ 300 tỷ tấn CO2. Năng suất hấp thụ phụ thuộc nhiều vào kiểu rừng và loại cây.
Rừng kín ôn đới hấp thụ CO2 khoảng 20 - 25 tấn/ha/năm, rừng mưa nhiệt đới thường xanh hấp thụ CO2 khoảng 150 tấn/ha/năm. Các chuyên gia môi trường đã tính toán và cho thấy để hấp thụ được lượng khí CO2 gia tăng như tốc độ hiện nay, mỗi năm trên Trái Đất phải trồng thêm 500 triệu ha rừng và tiêu tốn 200. Chính vì vậy, tích lũy C dần trở thành một trong những nhiệm vụ cơ bản của ngành Lâm nghiệp. Đây là vấn đề quan tâm không chỉ của một hay vài nước mà là vấn đề toàn cầu (Dẫn theo Nguyễn Thị Hạnh, 2009) [5].
Theo nguồn từ UNEP, trong chu trình C toàn cầu, lượng C lưu giữ trong thực vật thân gỗ và trong lòng đất khoảng 2,5 Tt1 (bao gồm trong đất, sinh khối tươi và vật rơi rụng), trong khi đó khí quyển chỉ chứa 0,8 Tt. Dòng C trao đổi do sự hô hấp và quang hợp của thực vật là 0,61 Tt và dòng trao đổi giữa không khí và đại dương là 0,92 Tt (Phạm Tuấn Anh, 2006 trích dẫn) [3]. Rừng đóng vai trò quan trọng trong việc chống lại biến đổi khí hậu do ảnh hưởng của nó đến chu trình C toàn cầu. Tổng lượng dự trữ C của rừng trên toàn thế giới, trong đất và thảm thực vật là khoảng 830 PgC, trong đó C trong đất lớn hơn 1,5 lần C dự trữ trong thảm thực vật (Brown, 1997).
Đối với rừng nhiệt đới, có tới 50% lượng C dự trữ trong thảm thực vật và 50% dự trữ trong đất (Dixon et al., 1994; Brown, 1997; IPCC, 2000; Pregitzer and Euskirchen, 2004) [26], [27]. 1 1 terra ton (Tt) = 1012tấn = 1018g n 5 Kết quả nghiên cứu của Woodwell và Pecan (1973) đã đưa ra lượng C trong các kiểu rừng trên lục địa (Bảng 1.1), trong đó rừng mưa nhiệt đới có lượng C tích trữ lớn nhất là khoảng 340 tỷ tấn, đất trồng trọt thấp nhất là khoảng 7 tỷ tấn.1: Lượng C tích lũy theo kiểu rừng C tích lũy Tỷ lệ Kiểu rừng (tỷ tấn) (%) Rừng mưa nhiệt đới 340 62,16 Rừng nhiệt đới gió mùa 12 2,19 Rừng thường xanh ôn đới 80 14,63 Rừng phương bắc 108 19,74 Đất trồng trọt 7 1,28 Tổng lượng các bon ở lục địa 547 100 (Nguồn: Woodwell và Pecan, 1973; Phạm Tuấn Anh, 2006 trích dẫn) [3] Brown et al. (1996) đã ước lượng, tổng lượng C mà hoạt động trồng rừng trên thế giới có thể tích trữ tối đa trong vòng 55 năm (1995 - 2050) là vào khoảng 60 - 87 Gt C, với 70% ở rừng nhiệt đới, 25% ở rừng ôn đới và 5% ở rừng cực bắc (Cairns et al. Tính tổng lại, rừng, trồng rừng có thể hấp thụ được 11 - 15% tổng lượng CO2 phát thải từ nguyên liệu hóa thạch trong thời gian tương đương (Brown, 1997) [26].
Từ những nghiên cứu trên cho thấy khả năng hấp thụ CO2 của thực vật, đặc biệt là cây rừng nhiệt đới – chúng được coi là các bể chứa C trên phạm vi toàn cầu. Năm 1980, Brown và cộng sự đã sử dụng công nghệ GIS dự tính lượng C trung bình trong rừng nhiệt đới châu Á là 114 tấn/ha trong phần sinh khối và 148 tấn/ha trong lớp đất mặt với độ sâu 1m, tương đương với 42 – 43 tỷ tấn C trong toàn châu lục.A đã chứng minh lượng C trong rừng nhiệt đới châu Á là 40 – 250 tấn/ha, trong đó 50 – 120 tấn/ha ở phần thực vật và đất (Brown, S. Tại Philippines, Lasco R (1999) tính toán đuợc ở rừng tự nhiên thứ sinh có 86 - 201 tấn C/ha trong phần sinh khối trên mặt đất. Ở rừng già con số đó n 6 là 370 - 520 tấn sinh khối/ha (tương đương 185 - 260 tấn C/ha, lượng C ước chiếm 50% sinh khối).
Nghiên cứu của Lasco năm 2003 cũng cho thấy rừng trồng thương mại cây mọc nhanh tích luỹ được 0,5 - 7,82 tấn C/ha/năm tuỳ theo loài cây và tuổi. Subarudi và các cộng sự (2003) [30], nghiên cứu về khả năng hấp thụ C của một số loài cây trồng chính ở Indonexia, trên cơ sở đó họ đã xây dựng mô hình kinh tế cho các loài cây này, trong đó có loài Keo tai tượng đã đưa ra được phương trình tính lượng C có trong sinh khối cây với loài Keo tai tượng: 0.75 Vt: là thể tích cây tính theo tuổi: Vt = 194 , 2 [1 − Exp ( − 1,926 (1 − 0 .2) Vấn đề giá trị thương mại C cũng đã có một số nghiên cứu. Theo ngân hàng thế giới (1998) [31], các nhà khoa học đã ước lượng giá trị dịch vụ do hệ sinh thái rừng trên toàn thế giới đạt khoảng 33.000 tỷ USD/năm trong đó giá trị mang lại từ giá trị thương mại CO2 là rất lớn. Natasha và Ina (2002) [28] đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu về giá trị của rừng.
Ở Việt Nam Việt Nam phê chuẩn Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu ngày 16 tháng 11 năm 1994 và Nghị định thư Kyôtô vào ngày 25 tháng 9 năm 2003, được đánh giá là một trong những nước tích cực tham gia vào Nghị định thư Kyoto sớm nhất (Hoàng Mạnh Hoà, 2004) [9]. Theo đánh giá và ước tính được tiềm năng giảm nhẹ khí nhà kính của Việt Nam qua 18 phương án cho các lĩnh vực năng lượng, nông nghiệp, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp. Tiềm năng khí nhà kính trong lĩnh vực năng lượng dao động từ 80mt CO2 đến 120mt CO2 trong 10 năm (2001-2010) với chi phí để giảm khí nhà kính dao động trong khoảng từ 22,3USD/tấn CO2 đến 154,2USD/ tấn CO2. Đối với lĩnh vực nông nghiệp, việc giảm nhẹ tiềm năng n 7 khí nhà kính được ước tính vào khoảng 22.2mt CO2 tương đương với chi phí để giảm dao động giữa 1.2USD/tCO2, trong khi đối với thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp, tiềm năng hấp thụ khí nhà kính là vào khoảng 52.2mtCO2 cùng thời kỳ với chi phí để giảm thấp, dao động từ 0,13 USD/tCO2 đến 2,4 USD/tCO2.
Điều này đã đặt ra một cơ hội lớn cho ngành lâm nghiệp Việt Nam (dẫn theo Lý Thu Quỳnh, 2007) [19]. Nhận thức được tầm quan trọng trong việc hấp thụ CO2 của các hệ sinh thái rừng, trong những năm gần đây các nghiên cứu về khả năng tích lũy C của các dạng thảm thực vật cũng đã được tiến hành nghiên cứu ở một số khía cạnh khác nhau. Ban đầu các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào đánh giá lượng C tích lũy ở rừng trồng của một số loài cây trồng chủ yếu như Keo, Thông, Mỡ,… và nghiên cứu lượng C tích tụ trong đất dưới tán rừng, C trong cây bụi thảm tươi dưới tán rừng và ngoài chỗ trống. Trong thời gian này, có nhiều bài viết đề cập đến các thông tin về Công ước khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu, Nghị định thư Kyoto và các nhận xét, ý kiến xung quanh vấn đề này như: - “CDM - Cơ hội mới cho ngành Lâm nghiệp” (Cao Lâm Anh, 2005) [1].
- Tài liệu “Nghị định thư Kyoto, cơ chế phát triển sạch và vận hội mới - 4/2005” của Trung tâm Sinh thái & Môi trường rừng. - “Cơ chế phát triển sạch và cơ hội thương mại C trong Lâm nghiệp” của Phạm Xuân Hoàn (2005) [10]. Trong các tài liệu này các tác giả đã khái quát toàn bộ thông tin về hoàn cảnh ra đời cũng như nội dung, mục tiêu của Công ước khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu, Nghị định thư Kyoto và đặc biệt quan tâm đến “Cơ chế phát triển sạch” - một cơ hội thương mại lớn cho ngành Lâm nghiệp. Bên cạnh đó một số tác giả như Phạm Văn Điển (2004), Vũ Tấn Phương (2004), Ngô Đình Quế (2005),.
cũng đã đưa ra các phương pháp lượng hoá giá trị thương mại của C về mặt phương pháp luận. n 8 Nguyễn Tuấn Dũng (2005) [4] đã nghiên cứu lượng C tích lũy của một số trạng thái rừng trồng tại núi Luốt trường Đại học Lâm nghiệp cho hai đối tượng là rừng trồng thuần loài Thông mã vĩ 20 tuổi và rừng trồng Keo lá tràm 15 tuổi. Kết quả cho thấy, đối với Thông mã vĩ 20 tuổi, lượng C tích lũy của cây tiêu chuẩn bình quân lâm phần là từ 78,1 ÷ 165,5 kg/cây; với keo lá tràm 15 tuổi, con số này là 133,9 kg/cây. Rừng trồng thông mã vĩ tích lũy được 75 ÷ 115,7 tấn C/ha trong cây, với keo lá tràm con số này là 56,4 ÷ 95,6 tấn C/ha.
Tại thời điểm nghiên cứu, với rừng thông mã vĩ trồng thuần loài 20 tuổi, lượng C tích lũy trong vật rơi rụng là từ 2,04 ÷ 3,62 tấn/ha, với rừng keo lá tràm trồng thuần loài 15 tuổi con số này nằm trong khoảng 2,36 ÷4,83 tấn/ha. Cũng trong năm 2005, Ngô Đình Quế [18] và các cộng sự đã nghiên cứu lượng C tích lũy cho các loài Keo tai tượng, Keo lá tràm, Keo lai, Thông nhựa, Thông mã vĩ, Thông ba lá, Bạch đàn Urophylla với phạm vi áp dụng cho rừng phòng hộ môi trường và rừng sản xuất nguyên liệu giấy ở vùng đồi núi thấp. Kết quả nghiên cứu của Ngô Đình Quế cho thấy, khả năng hấp thụ CO2 của các lâm phần khác nhau tùy thuộc vào năng suất lâm phần đó ở các tuổi nhất định. Để tích lũy khoảng 100 tấn CO2/ha Thông nhựa phải đến tuổi 16 - 17, Thông mã vĩ và Thông ba lá ở tuổi 10, Keo lai tuổi 4 - 5, Keo tai tượng 5 - 6, Bạch đàn Uro ở tuổi 4 - 5.
Kết quả nghiên cứu này rất có ý nghĩa nhằm làm cơ sở cho việc quy hoạch vùng trồng, xây dựng các dự án trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch. Trong nghiên cứu trữ lượng cácbon của thảm tươi và cây bụi, Vũ Tấn Phương (2006) [16] thấy rằng tỷ lệ sinh khối khô/tươi của tế guột đạt 46 %, cây bụi 45 % và lau lách đạt 33%. Lượng C được tác giả tính như sau: lượng C = 50 % lượng sinh khối khô. Lượng C trên mặt đất biến động từ 6,6 - 20 tấn/ha, trong đó lau lách có lượng C tích lũy cao nhất khoảng 20 tấn/ha, cỏ chỉ và cỏ lông lợn thấp nhất khoảng 3,9 tấn C/ha.
Từ kết quả trên cho thấy khả n 9 năng hấp thụ CO2 của lau lách cao nhất trong các đối tượng mà tác giả nghiên cứu.