Đặt vấn đề Rừng có vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người từ xa xưa cũng như trong hiện tại. Rừng có vai trò đều tiết nguồn nước tạo ra tiểu hoàn cảnh khí hậu, bảo vệ và cải tạo tài nguyên đất đai được tốt hơn và quan trọng hơn cả đó là rừng cung cấp khí O2 hấp thu khí CO2 giúp cho con người và động vật có thể tồn tại được. Với vai trò to lớn đó vấn đề bảo vệ tài nguyên rừng đang là vấn đề rất được chú trọng và quan tâm không chỉ trong nước mà cả thế giới. Ngày nay cùng với sự suy giảm tài nguyên rừng là vấn đề biến đổi khí hậu, hiện tượng nóng lên của trái đất đang là vấn đề nghiêm trọng và là mối quan tâm chung của toàn xã hội.
Nồng độ khí CO2 gia tăng trong bầu khí quyển được coi là nguyên nhân chính gây ra hiện tượng nóng lên của trái đất. Theo ước tính của các nhà khoa học , nếu toàn bộ sinh khối của rừng mưa nhiệt đới bị đốt trong vòng 50 năm tới thì lượng CO2 thải ra cùng với lượng CO2 không được hấp thu từ rừng mưa sẽ làm tăng lượng CO2 trong khí quyển gấp đôi hiện nay và nhiệt độ trái đất sẽ tăng len 2- 50 độ C. Làm cho băng 2 cực tan chảy dẫn đến mực nước biển dâng lên 1 – 3 m làm ngập các vùng thấp ven biển phía nam của Bangladesh, đồng bằng sông Mekong ở Việt Nam và một phần lớn diện tích các bang Florida và Louisiana của Mỹ. Nhiểu hòn đảo trên Thái Bình Dương sẽ biến mất trên bản đồ thế giới.
Ở Việt Nam, vấn đề thương mại hóa các giá trị dịch vụ môi trường rừng bao gồm khả năng hấp thụ CO2 của rừng còn rất mới mẻ nhưng cũng đã có sự quan tâm nghiên cứu trong một vài năm gần đây. Chính phủ đã có Nghị định 48/2007/NĐ-CP ngày 28/3/2007 về nguyên tắc và phương pháp định giá các loại rừng; Quyết định 380-TTg ngày 10/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ về thí điểm cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng, tiếp đó năm 2010 chính phủ đã ra Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Chính phủ cũng đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu điển hình là quyết định 158/QĐ-TTg ngày 02/12/2008 của Thủ tướng chính phủ về chương trình mục tiêu quốc gia ứng n 2 phó với biến đổi khí hậu, trong đó việc giảm lượng CO2 (nguyên nhân chính gây nên sự nóng lên của trái đất) rất được quan tâm. Như vậy, có thể nói hiện nay ở nước ta hành lang pháp lý cho việc thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng bao gồm cả khả năng hấp thụ và lưu giữ CO2 là đã có cơ sở nhưng việc thực thi còn rất nhiều cản trở do chúng ta chưa có đủ cơ sở khoa học cũng như thực tiễn cho việc xác định khả năng hấp thụ và lưu giữ CO2 của từng loại rừng.
Ở nước ta hiện nay những nghiên cứu nhằm lượng hóa giá trị dịch vụ môi trường của rừng bao gồm cả khả năng hấp thụ và lưu giữ C02 cũng như giá trị thương mại mà rừng mang lại ở Việt Nam còn ít và tản mạn, chưa có hệ thống, thiếu các dữ liệu cơ bản nên chưa đủ cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc định giá rừng nói chung, định lượng khả năng cố định carbon cho các dạng rừng nói riêng. Do vậy, giá trị mang lại của rừng hiện nay vẫn chưa được tính toán một cách đầy đủ. Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ tới việc thu hút cộng đồng tham gia phát triển nghề rừng một cách bền vững. Vầu đắng là một loài lâm sản ngoài gỗ rất có giá trị hiện nay và được phân bố rất phổ biến ở vùng Đông Bắc bộ.
Giá trị kinh tế của vầu đắng không chỉ thể hiện ở măng Vầu đắng thơm ngon được người tiêu dùng ưa chuộng, thân cây khí sinh của Vầu đắng được dùng nhiều trong xây dựng, làm đồ thủ công mỹ nghệ,. mà Vầu đắng còn góp phần quan trọng trong việc cảo tạo đất, điều hòa tiểu khí hậu, chống sói mòn, rửa trôi, hạn chế lũ lụt,. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy, giá trị của rừng Vầu đắng mới chỉ được thừa nhận ở những giá trị kinh tế của nó mang lại, những giá trị về bảo vệ môi trường, hấp thụ C02 của rừng Vầu đắng vẫn chưa được thừa nhận mặc dù về mặt nhận thức chúng ta đều biết rừng nói chung trong đó có rừng vầu đắng nói riêng đều góp phần quan trọng trong việc giảm thiểu biến đổi khí hậu, có khả năng hấp thụ và lưu giữ khí gây ra biến đổi khí hậu chủ yếu là C02 nhưng lại không có đầy đủ cơ sở khoa học cũng như thực tiễn để lượng hóa chúng. Xuất phát từ những yêu cầu đó, được sự nhất trí của trường Đại Học Nông lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp và giáo viên hướng dẫn tôi thực hiện đề tài "Nghiên cứu lượng Carbon (C) tích lũy của rừng Vầu đắng (Indosasa angustata Mc.
Clure) tại xã Lam Vỹ, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên" .Mục đích nghiên cứu Xác định hàm lượng carbon tích lũy của rừng Vầu đắng (Indosasa angustata Mc. Clure) thuần loài tại xã Lam Vỹ huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên góp phần làm cơ sở đánh giá giá trị của rừng nhằm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Mục tiêu nghiên cứu - Tìm ra được một số quy luật kết cấu lâm phần của rừng vầu đắng thuần loài tại xã Lam Vỹ, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. - Nghiên cứu được đặc điểm sinh khối và hàm lượng carbon tích lũy của rừng vầu đắng tại xã Lam Vỹ, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Qua quá trình nghiên cứu đề tài sẽ củng cố cho sinh viên những kiến thức đã học ở trên lớp vào thực tiễn, nhằm giúp cho sinh viên được làm quen dần với thực tế sản xuất. Sau khi hoàn thành đề tài sinh viên có thể học được các phương pháp, kĩ năng trong lập kế hoạch, viết báo cáo, phân tích số liệu.Đây là những vấn đề cần thiết cho công việc sau này. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Nghiên cứu đề tài sẽ đánh giá được vai trò của rừng nói chung và rừng vầu đắng nói riêng trong việc tích lũy lượng carbon nhằm nâng cao ý thức của người dân trong bảo vệ tài nguyên rừng và môi trường sinh thái.
Nghiên cứu đề tài giúp xác định lượng carbon tích lũy của rừng Vầu đắng (Indosasa angustata Mc. Clure) làm cơ sở cho việc thu phí môi trường và chi trả cho người bảo vệ và phát triển rừng góp phần tăng thu nhập cho người dân sống gần rừng và dựa vào rừng. Qua đó nâng cao nhận thức của người dân trong bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2. Nghiên cứu trên thế giới 2. Nghiên cứu về sinh khối và năng suất rừng "Sinh khối là tổng trọng lượng của sinh vật sống trong sinh quyển hoặc số lượng sinh vật sống trên một đơn vị diện tích, thể tích vùng”. Sinh khối là một chỉ tiêu quan trọng thể hiện năng suất của rừng, sinh khối được dùng để nghiên cứu một số chỉ tiêu khác như dinh dưỡng hoặc các chỉ tiêu về môi trường rừng.
Khi cơ chế phát triển sạch (CDM) xuất hiện, nghiên cứu sinh khối giữ vai trò quan trọng hơn, được dùng để xác định lượng carbon hấp thụ bởi thực vật rừng, góp phần định lượng giá trị môi trường do rừng mang lại. Sự phát triển không ngừng của xã hội loài người, bước sang thế kỷ XIX ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật của các ngành hóa phân tích, hóa thực vật các nhà khoa học đã vận dụng nguyên lý tuần hoàn vật chất trong chu trình tuần hoàn vật chất của tự nhiên để áp dụng nghiên cứu sinh khối rừng và bước đầu đã thu được những thành tựu đáng kể. Năm 1964, Lieth đã thể hiện năng suất trên toàn thế giới bằng bản đồ năng suất, đồng thời với sự ra đời của chương trình sinh học quốc tế “International Biology Program” (1964) và chương trình con người và sinh quyển “Man and Biosphere” (1971) đã tác động mạnh mẽ tới việc nghiên cứu sinh khối. Những nghiên cứu trong giai đoạn này tập trung vào các đối tượng đồng cỏ, savan, rừng rụng lá, rừng mưa thường xanh.000 kg/ha/năm; Rừng thứ sinh 40 - 50 tuổi ở Ghana: 362.
n 5 Những thập kỷ gần đây, thế giới đặc biệt quan tâm, lo lắng nhận thấy nồng độ các khí nhà kính trong khí quyển tăng lên nhanh chóng do các hoạt động phát thải qua mức các khí nhà kính của con người dẫn đến gia tăng hiệu ứng nhà kính, làm nhiệt độ trái đất tăng với tốc độ chưa từng có trong quá khứ. Biến đổi khí hậu tác động nghiêm trọng đến môi trường sinh thái, đe dọa cuộc sống toàn nhân loại và mọi sự sống trên hành tinh chúng ta. Biến đổi khí hậu với biểu hiện chủ yếu là hiện tượng ấm lên toàn cầu. Sự ấm lên toàn cầu do hiệu ứng các khí nhà kính nhân tạo đã và đang tác động mạnh mẽ đến khí hậu trái đất.
Nhằm làm ổn định các khí nhà kính trong khí quyển ở một mức mà có thể ngăn chặn và hạn chế tất cả những biến đổi nguy hiểm của khí hậu cộng đồng quốc tế đã có nhiều nỗ lực để giảm nhẹ biến đổi khí hậu. Công ước Liên hợp quốc về thay đổi khí hậu được thông qua trong hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển ở Riode Janeiro, Braxin, tháng 6 năm 1992, Công ước khung của LHQ về biến đổi khí hậu ( UNFCCC) đã được 189 nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam ký kết tham gia. Mục tiêu chính của UNFCCC là ổn định khí nhà kính trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được sự can thiệp nguy hiểm của con người vào hệ thống khí hậu.