Đặt vấn đề Rừng có vai trò to lớn đối với sự sống trên trái đất của chúng ta: cung cấp nguồn gỗ, củi, điều hòa khí hậu, tạo ra oxy, điều tiết nguồn nước tạo ra tiểu hoàn cảnh khí hậu, bảo vệ và cải tạo đất làm cho đất đai được tốt hơn và quan trọng hơn cả đó là rừng cung cấp O2 hấp thụ khí CO2 giúp con người có thể tồn tại được. Hiện nay vấn đề bảo vệ tài nguyên rừng đang là vấn đề rất được chú trọng và quân tâm không chỉ trong nước mà cả trên thế giới. Ngày nay cùng với sự suy giảm tài nguyên rừng là vấn đề biến đổi khí hậu, hiện tượng nóng lên của trái đất nguyên nhân trực tiếp là do phát thải quá mức khí nhà kính, đặc biệt là CO2. Kể từ cuối thế kỷ 18, mức CO2 tăng thêm 35,4% chủ yếu do con người đốt cháy các nhiên liệu hóa thạch như than đá, dầu mỏ, khí đốt trong quá trình phát triển công nghiệp.
Tình trạng phá rừng, đốt rẫy, khai thác gỗ vô tổ chức cũng là nguyên nhân tạo ra hơn 20% phát thải khí nhà kính trên toàn cầu. Với diện tích rừng ngày càng thu hẹp cộng với quá trình khai thác rừng không hợp lý chính là nguyên nhân để lượng carbon tích tụ càng nhiều. Theo tiến sỹ Christopher Field: "Lượng carbon tích trữ trong hệ sinh thái rừng thấp dẫn đến CO2 trong khí quyển tăng nhanh hơn và quá trình nóng lên toàn cầu diễn ra cũng nhanh hơn" và theo tuyên bố của tổ chức Thống kê Nam cự (BAS) cho biết vào năm 2006 có gần 10 tỷ tấn CO2 trong khí quyển trái đất, tăng 35% so với năm 1990. Ở Việt Nam, vấn đề thương mại hóa các giá trị dịch vụ môi trường rừng bao gồm khả năng hấp thụ CO2 của rừng còn rất mới mẻ nhưng cũng đã có sự quan tâm nghiên cứu trong một vài năm gần đây.
Chính phủ đã có Nghị định 48/2007/NĐ-CP ngày 28/3/2007 về nguyên tắc và phương pháp định giá các loại rừng; Quyết định 380-TTg ngày 10/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ về thí điểm cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng, tiếp đó năm 2010 chính phủ đã ra Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Chính phủ cũng đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu điển hình là quyết định 158/QĐ-TTg ngày 02/12/2008 của Thủ tướng chính phủ về chương trình mục tiêu quốc gia ứng n 2 phó với biến đổi khí hậu, trong đó việc giảm lượng CO2 (nguyên nhân chính gây nên sự nóng lên của trái đất) rất được quan tâm. Như vậy, có thể nói hiện nay ở nước ta hành lang pháp lý cho việc thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng bao gồm cả khả năng hấp thụ và lưu giữ CO2 là đã có cơ sở nhưng việc thực thi còn rất nhiều cản trở do chúng ta chưa có đủ cơ sở khoa học cũng như thực tiễn cho việc xác định khả năng hấp thụ và lưu giữ CO2 của từng loại rừng. Ở nước ta hiện nay các công trình nghiên cứu mới chỉ tập trung nghiên cứu sinh khối và khả năng hấp thụ carbon của một số dạng rừng trồng cho một số loài cây trồng rừng phổ biến ở Việt Nam như Keo các loại, Bạch đàn, Thông,.
Tuy nhiên, những nghiên cứu nhằm lượng hóa giá trị dịch vụ môi trường của rừng bao gồm cả khả năng hấp thụ và lưu giữ CO2 cũng như giá trị thương mại mà rừng mang lại ở Việt Nam còn ít và tản mạn, chưa có hệ thống, thiếu các dữ liệu cơ bản nên chưa đủ cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc định giá rừng nói chung, định lượng khả năng cố định carbon cho các dạng rừng nói riêng. Do vậy, giá trị mang lại của rừng hiện nay vẫn chưa được tính toán một cách đầy đủ. Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ tới việc thu hút cộng đồng tham gia phát triển nghề rừng một cách bền vững. Thái Nguyên là một tỉnh miền núi phía bắc với sự phát triển của nhiều nhà máy, khu công nghiệp lớn đang gây ra những sức ép hết sức nặng nề với môi trường về khí thải.
Trong những năm gần đây được Đảng và nhà nước quan tâm tới công tác phát triển rừng, diện tích rừng của Thái Nguyên tăng đáng kể. Diện tích rừng đã được phát triển mạnh trong các huyện thuộc tỉnh, sự đóng góp đó không thể không nhắc đến là công tác phát triển rừng tại huyện Định Hóa. Tại Định Hóa loài cây Vầu Đắng là một trong những loài cây có ý nghĩa và vai trò quan trọng cho người dân địa phương, rừng vầu đắng không chỉ đem lại nguồn thu tương đối lớn cho người dân từ việc khai thác sản phẩm măng làm thực phẩm, cây làm nguyên liệu chế biến như: Đũa, bột giấy. mà rừng vầu đắng còn góp phần quan trọng trong việc cảo tạo đất, điều hòa tiểu khí hậu, chống xói mòn, rửa trôi, hạn chế lũ lụt,.
Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy, giá trị của rừng Vầu đắng mới chỉ được thừa nhận ở những giá trị kinh tế của nó mang lại, những giá trị về bảo vệ môi trường, hấp thụ C02 của rừng Vầu đắng vẫn chưa được thừa nhận mặc dù về mặt nhận thức chúng ta đều biết rừng n 3 nói chung trong đó có rừng vầu đắng nói riêng đều góp phần quan trọng trong việc giảm thiểu biến đổi khí hậu, có khả năng hấp thụ và lưu giữ khí gây ra biến đổi khí hậu chủ yếu là C02 nhưng lại không có đầy đủ cơ sở khoa học cũng như thực tiễn để lượng hóa chúng. Xuất phát từ những yêu cầu đó, được sự nhất trí của trường Đại Học Nông lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp và giáo viên hướng dẫn tôi thực hiện đề tài "Nghiên cứu lượng Carbon (C) tích lũy của rừng Vầu đắng (Indosasa angustata Mc. Clure) tại xã Bảo Linh, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên" .Mục đích nghiên cứu - Mục tiêu về lý luận Góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho việc định lượng giá trị môi trường của rừng trồng Vầu đắng tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. - Mục tiêu về thực tiễn Xác định hàm lượng carbon tích lũy của rừng Vầu đắng (Indosasa angustata Mc.
Clure) thuần loài tại xã Bảo Linh huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên góp phần làm cơ sở đánh giá giá trị của rừng nhằm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Mục tiêu nghiên cứu - Tìm ra được một số quy luật kết cấu lâm phần của rừng vầu đắng thuần loài tại xã Bảo Linh, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. - Nghiên cứu được đặc điểm sinh khối và hàm lượng carbon tích lũy của rừng vầu đắng tại xã Bảo Linh, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Ý nghĩa của đề tài 1.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Qua quá trình nghiên cứu đề tài, sinh viên sẽ được thực hành việc nghiên cứu khoa học, biết phương pháp phân bổ thời gian hợp lý trong quá trình làm việc.
Xây dựng cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu khả năng tích lũy carbon rừng Vầu đắng tại khu vực nghiên cứu. Đồng thời đây cũng là cơ sở để sinh viên củng cố kiên thức đã học ở trên lớp vào thực tiễn, nhằm giúp cho sinh viên được làm quen dần với thực tế sản xuất. Sau khi hoàn thành đề tài sinh viên có thể học được các phương pháp, kĩ n 4 năng trong lập kế hoạch, viết báo cáo, phân tích số liệu. Đây là những vấn đề cần thiết cho công việc sau này.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Nghiên cứu đề tài sẽ đánh giá được vai trò của rừng nói chung và rừng vầu đắng nói riêng trong việc tích lũy lượng carbon nhằm nâng cao ý thức của người dân trong bảo vệ tài nguyên rừng và môi trường sinh thái.
Nghiên cứu đề tài giúp xác định lượng carbon tích lũy của rừng Vầu đắng (Indosasa angustata Mc. Clure) làm cơ sở cho việc thu phí môi trường và chi trả cho người bảo vệ và phát triển rừng góp phần tăng thu nhập cho người dân sống gần rừng và dựa vào rừng. Qua đó nâng cao nhận thức của người dân trong bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng. n 5 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 2. Công ước liên hợp quốc về biến đổi khí hậu Những thập kỷ gần đây, thế giới đặc biệt quan tâm, lo lắng nhận thấy nồng độ các khí nhà kính trong khí quyển tăng lên nhanh chóng do các hoạt động phát thải qua mức các khí nhà kính của con người dẫn đến gia tăng hiệu ứng nhà kính, làm nhiệt độ trái đất tăng với tốc độ chưa từng có trong quá khứ. Biến đổi khí hậu tác động nghiêm trọng đến môi trường sinh thái, đe dọa cuộc sống toàn nhân loại và mọi sự sống trên hành tinh chúng ta. Biến đổi khí hậu với biểu hiện chủ yếu là hiện tượng ấm lên toàn cầu.
Sự ấm lên toàn cầu do hiệu ứng các khí nhà kính nhân tạo đã và đang tác động mạnh mẽ đến khí hậu trái đất. Nhằm làm ổn định các khí nhà kính trong khí quyển ở một mức mà có thể ngăn chặn và hạn chế tất cả những biến đổi nguy hiểm của khí hậu cộng đồng quốc tế đã có nhiều nỗ lực để giảm nhẹ biến đổi khí hậu. Công ước Liên hợp quốc về thay đổi khí hậu được thông qua trong hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển ở Riode Janeiro, Braxin, tháng 6 năm 1992, Công ước khung của LHQ về biến đổi khí hậu (UNFCCC) đã được 189 nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam ký kết tham gia. Mục tiêu chính của UNFCCC là ổn định khí nhà kính trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được sự can thiệp nguy hiểm của con người vào hệ thống khí hậu.
Cơ chế phát triển sạch CDM và nghị định thư Kyoto CDM là một trong 3 cơ chế linh hoạt của Nghị định thư Kyoto trong đó nó cho phép các nước phát triển đạt được các chỉ tiêu về giảm phát thải khí nhà kính bắt buộc thông qua đầu tư thương mại các dự án trồng rừng tại các nước đang phát triển, sẽ nhằm hấp thụ khí CO2 từ khí quyển và làm giảm lượng phát thải khí nhà kính. Các dự án CDM có hai mục tiêu chính đó là: - Nhằm giúp đỡ các nước đang phát triển, nơi sẽ thực hiện các dự án CDM đạt được mục tiêu phát triển bền vững.