Đặt vấn đề Rừng là tài nguyên quý của mỗi quốc gia, là lá phổi xanh của nhân loại. Tất cả mọi hoạt động của đời sống xã hội đều có liên quan đến rừng. Vì thế, có thể nói: "rừng là nguồn của nước, nước là nguồn của sự sống". Rừng có vai trò quan trọng, ngoài việc cung cấp các sản phẩm hữu hình như gỗ, củi, lâm sản ngoài gỗ, rừng còn có chức năng sinh thái vô cùng quan trọng, như: Bảo vệ đất, hạn chế xói mòn, điều tiết nguồn nước, hạn chế lũ lụt, chắn sóng, chắn cát bay, đa dạng sinh học, bảo vệ cảnh quan, du lịch … và tham gia điều hòa khí hậu toàn cầu bằng cách hấp thụ CO2, tích lũy carbon và cung cấp oxy.
Trong những năm gần đây, tài nguyên rừng nhiệt đới càng ngày càng suy giảm. Trên thể giới trung bình hàng năm rừng nhiệt đới mất đi khoảng 11 triệu ha. Năm 1943 nước ta có khoảng 14,3 triệu ha những đến nay chỉ còn khoảng 10,9 triệu ha rừng. Mất rừng đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của nhân dân, nhất là đồng bào các dân tộc ít người ở miền núi và trung du.
Rừng có vài trò rất to lớn trong việc cung cấp lâm sản, bảo tồn đã dạng sinh học, du lịch sinh thái và phòng hộ môi trường. Ngày nay, giá trị phòng hộ môi trường của rừng đã vượt xa giá trị cung cấp lâm sản truyền thống. Là một nước nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, với 3/4 diện tích là đồi núi và thường xuyên phải chịu những trận mưa, bão lớn thì rừng phòng hộ có vài trò rất quan trọng đối với nước ta. Xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn cũng là giải pháp có hiệu quả để phòng chống nguy cơ sa mạc hoá đất vùng đồi núi, góp phần tạo thêm công ăn việc làm cho hàng chục triệu người, cung cấp thêm nhiều loại gỗ và lâm sản ngoài gỗ có giá trị phục vụ cuộc sống và phát triển kinh tế - xã hội miền núi.
Văn Chấn là một huyện miền n i, nằm ở phía Tây Nam tỉnh Yên Bái gồm có 31 đơn vị hành chính (03 thị trấn và 28 xã, trong đó có 14 xã đặc biệt khó khăn). Diện tích đất lâm nghiệp của huyện là 76.032 ha, trong đó rừng phòng hộ có diện tích là 14. Do địa hình chủ yếu là đồi n i cao, rừng phòng hộ của 2 Văn Chấn giữ vào trò rất quan trọng trong điều hòa hòa nguồn nước, chống sạt lở đất vào mùa mưa lũ và các chức năng bảo vệ môi trường khác. Tuy nhiên, rừng phòng hộ ở Văn Chấn hiện đang gặp phải rất nhiều thách thức làm giảm số lượng và chất lượng rừng như các vấn đề về xâm lấn rừng phòng hộ của người dân địa phương, khai thác trái phép.
Đất rừng phòng hộ ở trạng thái Ia còn nhiều nên trong những năm gần đây thường sảy ra bão lũ gây thiệt hại lớn về đường giao thông, sản xuất nông nghiệp, thiệt hại về tài sản cũng như tính mạng của người dân, điển hình như lũ quét ngày 28 tháng 9 năm 2007 tại xã Cát Thịnh, huyện Văn Chấn làm chết và mất tích 52 người, cuốn trôi trên 60 ngôi nhà, đường Quốc lộ 32 bị sạt lở hang trăm điểm,… Nghiên cứu về hiện trạng của những thách thức đối với rừng phòng hộ và đề xuất những giải pháp khả thi nhằm phát triển rừng phòng hộ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế, xã hội của huyện Văn Chấn. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu, đánh giá nào một cách toàn diện và hệ thống về vấn đề này, chủ yếu mới dừng lai đánh giá tình hình triển khai thực hiện kế hoạch. Xuất phát từ yêu cầu đó, đề tài "Nghiên cứu thực trạng và một số giải pháp phát triển rừng phòng hộ tại huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái" đặt ra là rất cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn nhằm tổng kết và đánh giá được thực trạng và các giải pháp kỹ thuật lâm sinh phát triển rừng phòng hộ tại huyện Văn Chấn, rút ra những bài học kinh nghiệm cũng như đề xuất một số khuyến nghị cho việc phát triển nhân rộng. Mục tiêu đề tài 2.
Mục tiêu chung Trên cơ sở khoa học về thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng phòng hộ tại huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm quản lý và phát triển rừng của khu vực. Mục tiêu cụ thể * Về khoa học: - Đánh giá được thực trạng công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng tại 3 huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, r t ra được ưu, nhược điểm cũng như bài học kinh nghiệm trong công tác quản lý rừng. - Xây dựng được một số luận cứ cho việc đề xuất giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ tại huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. * Về thực tiễn: Đề xuất được một số giải pháp chủ yếu để quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ tại huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3. Ý nghĩa khoa học Góp phần bổ sung thông tin và cơ sở khoa học cho các nhà quản lý đánh giá một cách tổng quát về các chỉ tiêu quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ tại huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái 3. Ý nghĩa thực tiễn Nghiên cứu cơ sở khoa học để đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ tại huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Trên thế giới Phát huy hiệu quả trồng rừng là vấn đề mà các nhà khoa học luôn quan tâm nghiên cứu. Cơ sở khoa học cho việc phát triển trồng rừng ở các nước phát triển đã tương đối hoàn thiện từ công tác giống tới các biện pháp tác động cho từng loại rừng, phục vụ đắc lực cho sản xuất lâm nghiệp. Các biện pháp quản lý rừng Sự gia tăng dân số gây sức ép rất lớn đối với tài nguyên rừng, phương thức quản lý rừng theo hướng tiếp cận đơn mục đích (chỉ ch ý tới khai thác bền vững tài nguyên gỗ) đã không còn phù hợp nữa, xã hội loài người bắt đầu hướng tới một phương thức quản lý rừng mới mang tính bền vững hơn đó là phương thức quản lý rừng đa mục đích. Quản lý rừng theo hướng tiếp cận mới - quản lý đa mục đích là một đóng góp rất đáng kể cùng với sự phát triển của ngành Lâm nghiệp, sự phát triển đó phải mang lại lợi ích kinh tế, môi trường và xã hội, có thể cân bằng giữa nhu cầu hiện tại và tương lai [25].
Giai đoạn đầu thế kỷ XX, vai trò của người dân trong công tác quản lý rừng chưa được ch ý tới. Do vậy, người dân chỉ biết khai thác lâm sản và phá rừng lấy đất canh tác nương rẫy mà không hề quan tâm tới việc xây dựng và phát triển vốn rừng dẫn tới tài nguyên rừng trong giai đoạn này bị suy thoái nghiêm trọng [41]. Việc quản lý rừng theo phương thức tập trung đã không mang lại kết quả trong quản lý tài nguyên rừng như mong muốn của các nhà quản lý, người ta bắt đầu nhận thấy tầm quan trọng của người dân, cộng đồng địa phương trong việc tham gia quản lý tài nguyên rừng đó là cơ sở của sự ra đời phương thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng và khái niệm đồng quản lý trong tài nguyên rừng cũng được ra đời từ đó. Phương thức quản lý rừng cộng đồng xuất hiện đầu tiên ở ấn Độ và dần dần biến thái thành các hình thức quản lý khác nhau như lâm nghiệp trang 5 trại, lâm nghiệp xã hội (Nêpan, Thái Lan, Philippines,.
Trong việc xây dựng mối quan hệ đồng quản lý tài nguyên rừng thì vai trò của người dân được nhắc tới nhiều hơn, việc đồng quản lý nhằm gắn chặt quyền lợi với nghĩa vụ của người dân khi tham gia quản lý rừng, để người dân thực sự cảm nhận được vai trò làm chủ của mình đối với tài nguyên rừng khi tham gia vào công tác quản lý rừng. Nhờ việc thực hiện theo phương thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng, thực hiện đồng quản lý trong việc chia sẻ lợi ích mà tại Ấn Độ đã có hơn 63.000 nhóm - tổ tham gia vào các chương trình trồng mới 14 triệu ha rừng, mang lại hiệu quả tích cực trong việc phục hồi và phát triển rừng của đất nước, góp phần giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn về lợi ích giữa nhà nước và người dân địa phương. Ở Nam Phi tại vườn quốc gia Richtersveld việc nghiên cứu tìm ra phương thức hợp tác quản lý với cộng đồng dân cư dựa trên hương ước quản lý bảo vệ rừng, trong đó người dân cam kết bảo vệ đa dạng sinh học trên địa phận của mình còn chính quyền và ban quản lý hỗ trợ người dân xây dựng cơ sở hạ tầng và cải thiện các điều kiện kinh tế xã hội khác đã đóng góp rất tích cực cho việc thực hiện quản lý rừng tại Vườn quốc gia [38]. Chính sách của nhà nước về các giải pháp kinh tế, xã hội có vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý rừng.
Một trong những yếu tố quan trọng quyết định tới hiệu quả của công tác quản lý rừng đó là sự rõ ràng trong quyền sử dụng/sở hữu rừng và đất rừng. Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy những nơi mà quyền sở hữu/sử dụng về rừng và đất rừng không được xác định rõ thì tài nguyên rừng nhanh chóng bị khai thác cạn kiệt và chuyển sang các mục đích sử dụng khác, không khuyến khích được việc bảo vệ đất, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức vì lợi ích kinh tế trước mắt. Vì vậy, sự tham gia của các cộng đồng trong quản lý và sử dụng đất được xem là một trong những chìa khoá để nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Một số nghiên cứu cho thấy các mối quan hệ truyền thống trong xã hội có vai trò quan trọng trong việc giải quyết những vấn đề về sở hữu/sử dụng tài nguyên (Laslo Pancel, 1993) [47].
Thông qua các nghiên cứu và thực tiễn sản xuất, chính phủ các nước đã đưa ra các chương trình quan trọng như “Lâm nghiệp cộng đồng”, các chính sách quản lý tài 6 nguyên thiên nhiên và đều ch trọng đến sự tham gia của người dân, sự phân cấp và chuyển giao trách nhiệm quản lý tài nguyên sang các cộng đồng địa phương và các nhóm sử dụng.