ĐẶT VẤN ĐỀ Ngày nay cùng với sự phát triển khoa học kỹ thuật về nhiều mặt đã đem lại những lợi ích to lớn cho đời sống con ngƣời. Lĩnh vực thú y cũng không ngoại lệ với xu thế ngày càng đƣợc nâng cao và phát triển. Việt Nam tuy cũng có những đầu tƣ ứng dụng những kỹ thuật tiên tiến nhƣng so với các nƣớc khác trên thế giới (đặc biệt là các nƣớc phƣơng Tây) đã có những bƣớc nhảy vọt trong nghiên cứu và ứng dụng thú y khoa hàng chục thập niên qua thì tại Việt Nam hiện nay mới chỉ là ban đầu. Các bệnh lý trên đƣờng tiết niệu cũng đƣợc quan tâm với nhiều nhóm bệnh lý khác nhau.
Trong đó, sỏi bàng quang đƣợc nhắc đến khá phổ biến. Nhƣng sau khi phẫu thuật, sự tái phát và hình thành liên tục của tinh thể sỏi trên các ca bệnh sỏi bàng quang dẫn đến việc có thể phải phẫu thuật nhiều lần làm ảnh hƣởng tới sức khỏe của thú. Điều này khiến các nhà khoa học tìm tòi những biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn phòng ngừa sỏi dựa trên nguyên nhân hay đặc điểm của từng loại sỏi. Thế nhƣng hiện nay các biện pháp điều trị và phòng ngừa sỏi bàng quang không hề đơn giản diễn ra trong “ngày một ngày hai” mà là cả một quá trình điều trị với thời gian rất dài.
Quá trình này diễn ra ít nhất từ 4 – 6 tháng hoặc phải điều trị và theo dõi liên tục trong suốt cuộc đời con thú. Các thuốc dùng trong điều trị có tác dụng làm tan sỏi hay ngăn ngừa sự hình thành sỏi hoặc không làm gia tăng kích thƣớc sẵn có của viên sỏi có sẵn trong bàng quang. Ở Việt Nam, mặc dù cũng đã có rất nhiều nghiên cứu sỏi bàng quang trên thú từ lâu nhƣng khi áp dụng những nghiên cứu đó vào trong cuộc sống thì không dễ dàng. Lí do đƣợc đƣa ra nhiều nhƣng chủ yếu là do tâm lý hay ý thức của ngƣời Việt nuôi thú cƣng trong nhà chƣa đƣợc quan tâm đúng mức.
Mặt khác, do việc điều trị và phòng ngừa diễn ra trong thời gian khá dài làm cho chủ nuôi có tâm lí e ngại. Ngoài ra, các cán bộ thú y tại địa phƣơng cũng 1 nhƣ ngƣời dân cũng chƣa có sự kết hợp chặt chẽ trong việc quan tâm theo dõi và điều trị bệnh cho thú. Điều này làm cho việc điều trị gặp rất nhiều khó khăn. Tại Việt Nam hiện nay, phƣơng pháp phẫu thuật để loại bỏ sỏi đƣợc coi nhƣ là phƣơng pháp duy nhất khi thực hiện điều trị.
Trong đề tài này, chúng tôi muốn đƣa thử nghiệm điều trị và phòng ngừa sỏi bàng quang theo các phác đồ đã đƣợc sử dụng từ lâu trên thế giới vào một số chó bị bệnh sỏi bàng quang. Sau đó chúng tôi tiếp tục theo dõi đánh giá kết quả, tìm xem những ƣu điểm cũng nhƣ nhƣợc điểm khi sử dụng cách điều trị này. Để về sau những tƣ liệu của chúng tôi có thể là những tƣ liệu cơ sở cho các nghiên cứu khác cũng nhƣ có thể áp dụng hỗ trợ khi điều trị trong thực tiễn. Trƣớc tình hình đó, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Khảo sát bệnh lý sỏi bàng quang và bƣớc đầu ứng dụng điều trị sỏi urate theo phác đồ trên chó” tại Phòng khám thú y Haxi tại k1/84 Bùi Hữu Nghĩa, phƣờng Bửu Hoà, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai và xét nghiệm máu và nƣớc tiểu tại Phòng khám đa khoa Ái Nghĩa tại đƣờng Đồng Khởi, Tân Hiệp, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Những nghiên cứu ngoài nƣớc liên quan đến bệnh lý sỏi bàng quang 1. Bệnh lý sỏi bàng quang Sỏi bàng quang là các khoáng chất hình thành những khối đá nhỏ trong bàng quang. Sỏi thƣờng tròn, ít khi xù xì, góc cạnh, có loại bé nhƣ hạt ngô cũng có loại lớn nhƣ quả trứng gà hay nắm tay.
Thƣờng sỏi là một viên, đôi khi lại nhiều hơn. Sỏi nằm lại trong bàng quang làm niêm mạc bàng quang bị tổn thƣơng, viêm đỏ hay phù nề. Lâu dần gây viêm loét niêm mạc bàng quang dẫn đến viêm hở ở lớp cơ và lớp mỡ quanh bàng quang. Hậu quả là dung tích bàng quang bị thu nhỏ, sức chứa giảm làm giảm khả năng bài tiết của hệ thống tiết niệu.
Sỏi bàng quang phát triển khi nƣớc tiểu trong bàng quang trở nên cô đặc, gây ra kết tinh khoáng chất trong nƣớc tiểu. Sự cô đặc hay tù đọng nƣớc tiểu thƣờng là kết quả của một tuyến tiền liệt mở rộng, dây thần kinh thiệt hại hoặc nhiễm trùng đƣờng tiết niệu tái diễn. Sỏi bàng quang không luôn luôn gây ra dấu hiệu hoặc triệu chứng và đôi khi đƣợc phát hiện trong các kiểm tra cho các vấn đề khác. Khi triệu chứng xảy ra, có thể từ đau bụng đến máu trong nƣớc tiểu.
Theo Nguyễn Nhƣ Pho (1995), nguyên nhân hình thành sỏi là do các yếu tố nhƣ tinh thể khoáng trong nƣớc tiểu bị bão hòa do số lƣợng khoáng chất vƣợt quá giới hạn, các chất dần dần tích tụ thành viên sỏi. Các chất khoáng phổ biến ở gia súc là magnesium, phosphorus, calcium và ammonia. Các tinh thể khoáng chất lắng đọng tập trung vào một nhân protein và mucoprotein (<5% thành phần sỏi). Còn lại là các vi lƣợng nhƣ urate, kim loại kiềm, flour… Khẩu phần và cách thức cho ăn uống có thể làm thay đổi độ pH nƣớc tiểu, lƣợng nƣớc tiểu hay khả năng cô đặc làm cho nƣớc tiểu bị bão hòa.
Ứng dụng siêu âm trong chẩn đoán bệnh đường tiết niệu 1. Định nghĩa siêu âm Siêu âm là một phƣơng pháp khảo sát hình ảnh học bằng cách cho một phần của cơ thể tiếp xúc với sóng âm có tần số cao để tạo ra hình ảnh bên trong cơ thể. Siêu âm không sử dụng các phóng xạ ion hóa (nhƣ X – quang). Do hình ảnh siêu âm đƣợc ghi nhận theo thời gian thực nên nó có thể cho thấy hình ảnh cấu trúc và sự chuyển động của các bộ phận bên trong cơ thể kể cả hình ảnh dòng máu đang chảy trong các mạch máu.
Sóng âm là hiện tƣợng vật lý trong đó năng lƣợng đƣợc dẫn truyền dƣới dạng dao động của các phần tử vật chất. Đơn vị đo lƣờng của sóng âm là Hz (Hertz). Trong ghi hình siêu âm y học biến thiên từ 1 MHz đến 12 MHz. Tần số biểu thị số chu kỳ chấn động trong một giây (1MHz = 1 mêga Hertz = 1 triệu chấn động trong một giây) (Trích dẫn liệu Nguyễn Huyền Trân, 2010).
Đọc và phân tích hình ảnh siêu âm Hình bờ Là liên bề mặt giới hạn giữa hai môi trƣờng đặc có cấu trúc âm khác nhau nhƣ gan, thận phải, lách thận trái, khối u đặc nhu mô bình thƣờng. Cũng có thể là cấu trúc lỏng hoặc khối u bình thƣờng hay bệnh lý nhƣ: thành bàng quang, thành túi mật, u nang… Hình cấu trúc Hình cấu trúc đƣợc phân biệt thành nhiều loại gồm: cấu trúc đặc có hồi âm đồng nhất (nhu mô phủ tạng đặc) hoặc không đồng nhất (nhu mô bệnh lý phủ tạng đặc), cũng có thể là cấu trúc lỏng rỗng có hồi âm bình thƣờng (bàng quang, túi mật) hoặc bệnh lý (u nang, ổ máu tụ, thận ứ nƣớc). Nhƣ vậy, siêu âm phân biệt đƣợc cấu trúc choán chỗ. Độ hồi âm 4 Theo Nguyễn Thu Liên và cộng sự (1998), độ hồi âm, đôi khi gọi tắt là echo, phản ánh đặc trƣng của cơ quan phản xạ lại sóng siêu âm.
Ngƣời ta phân biệt độ hồi âm thành ba mức độ: hồi âm dày (hồi âm cao, hyperechoic) cho hình ảnh sáng trên hình siêu âm (hồi âm của xƣơng, chủ mô…), hồi âm kém (hồi âm thấp, hypoechoic) cho hình ảnh tối trên hình siêu âm (hồi âm của mô, của dịch mủ.), hồi âm trống (không có hồi âm, sonolucent) cho hình ảnh đen trên hình siêu âm (hồi âm của dịch). Độ hồi âm trên máy siêu âm phản ánh độ sáng hay tối của hình quan sát đƣợc. Trên máy siêu âm đều có thang độ xám chuẩn, nhờ vậy ta có thể ƣớc lƣợng đƣợc sự thay đổi nếu có. Mật độ của mô Theo Nguyễn Thu Liên và cộng sự (1998), căn cứ vào độ hồi âm ta có thể ƣớc lƣợng đƣợc tổn thƣơng ở dạng đặc hay lỏng.
Gồm 3 loại: tính chất đặc (hồi âm bên trong đồng nhất hoặc không đồng nhất), tính chất dịch (nang), tính chất hỗn hợp, có phần đặc – có phần dịch. Trên thực tế nhiều khi bản chất mô đặc nhƣng có độ hồi âm rất kém – gần nhƣ trống (ví dụ, hạch lymphoma) hay ngƣợc lại, là chất dịch mủ nhƣng độ hồi âm lại rất dày (ví dụ, abscess gan do vi trùng). Do đó, cần dựa thêm vào nhiều yếu tố khác để xác định đƣợc dạng tổn thƣơng. Các hiện tượng hay gặp trong siêu âmBóng âm Ta sẽ thấy hiện tƣợng bóng âm (hay còn gọi là hiện tƣợng bóng lƣng) mỗi khi chùm tia siêu âm bị một cấu trúc phản xạ rất mạnh chặn lại.
Trên ảnh siêu âm, vách phản xạ đƣợc biểu hiện bởi một sóng phản hồi rất đậm kèm theo sau đó là một vệt hình nón của bóng âm mà trong vệt bóng âm không một hình ảnh nào còn thấy rõ đƣợc (Trích dẫn bởi Nguyễn Thị Tố Nga, 2008). Sự hồi âm mạnh 5 Mô xƣơng, vôi có độ cản âm rất lớn nên khi gặp loại mô này hầu hết sóng siêu âm đều bị phản xạ ngƣợc trở lại. Trên ảnh siêu âm, mô này cho hình ảnh có độ hồi âm rất dày (rất sáng) ví dụ nhƣ sỏi (Nguyễn Thu Liên và cộng sự, 1998). Sự tăng âm Tăng âm là hiện tƣợng chùm tia siêu âm đi qua môi trƣờng có độ cản âm thấp (ví dụ nhƣ nang) thì phần sâu sẽ nhận đƣợc nhiều tín hiệu siêu âm hơn chung quanh (Nguyễn Thu Liên và cộng sự, 1998).
Sự giảm âm Giảm âm xảy ra khi chùm tia siêu âm gặp vùng mô có độ cản âm lớn, năng lƣợng chùm tia siêu âm sẽ bị giảm đi nhanh chóng và phần sâu sẽ nhận đƣợc ít sóng âm hơn. Ta thƣờng gặp hiện tƣợng này trong trƣờng hợp gan nhiễm mỡ (Nguyễn Thu Liên và cộng sự, 1998). Hiện tƣợng dội lại (Đa âm phản hồi) Hình ảnh xuất hiện trên màn hình siêu âm là một loạt hình ảnh giả của mặt phân cách với những khoảng cách đều nhau phía sau mặt phân cách thật với kích thƣớc và độ hồi âm nhỏ dần (Trích dẫn liệu Nguyễn Phƣớc Bảo Quân, 2002). Các bước tiến hành siêu âmChuẩn bị thú Để dễ dàng cho việc siêu âm, cần cho thú nhịn ăn tối thiểu 6 giờ trƣớc khi thực hiện thao tác.