Đặt vấn đề Trong những năm gần đây, chăn nuôi gia cầm đang chiếm một vị trí quan trọng và luôn được quan tâm hàng đầu vì nó có khả năng đáp ứng nhanh nhu cầu thực phẩm phục vụ cho con người. Chính vì vậy, chăn nuôi gia cầm ngày càng có những bước phát triển vượt bậc về cả số lượng và chất lượng, đóng vai trò không thể thiếu trong sự phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện kinh tế gia đình, góp phần vào việc xóa đói giảm nghèo ở các địa phương. Ở nước ta hiện nay, các hộ gia đình chăn nuôi gà chủ yếu với số lượng ít, chuồng trại đơn giản; những gia đình chăn nuôi gà công nghiệp với quy mô nhỏ cũng vẫn chỉ là chăn nuôi bán công nghiệp. Vấn đề vệ sinh thú y trong chăn nuôi gà chưa được quan tâm đúng mức, dịch bệnh thường xảy ra, gây trở ngại cho việc phát triển chăn nuôi, gây thiệt hại kinh tế cho nhiều gia đình và cơ sở chăn nuôi gà.
Theo Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (2002) [13], ngành chăn nuôi gia cầm nước ta còn gặp một số trở ngại do dịch bệnh thường xảy ra, trong đó trước hết phải kể đến bệnh ký sinh trùng. Đàn gia cầm thường nhiễm ký sinh trùng với tỷ lệ và cường độ cao, diễn ra quanh năm, bất kể mùa vụ và thời tiết nào. Hàng năm, thiệt hại do bệnh ký sinh trùng gây ra chiếm một tỷ lệ khá cao trong tổng thu nhập của ngành. Việt Nam là một nước nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới, có thảm thực vật và hệ động vật phong phú, đa dạng, thích hợp cho nhiều loài ký sinh trùng phát triển, ký sinh và gây bệnh.
Trong các bệnh ký sinh trùng ở gà, có những bệnh do nhóm đơn bào ký sinh gây ra, chúng chiếm đoạt chất dinh dưỡng, tiết độc tố, gây ra những biến đổi bệnh lý làm cho gà gầy yếu, chậm lớn, giảm mạnh sức sản xuất thịt, trứng. Đặc biệt, một số bệnh đơn bào cũng gây ra các “ổ dịch cấp tính”, làm cho gà chết nhanh với tỷ lệ cao không kém các bệnh truyền nhiễm, trong đó có bệnh đơn bào đường máu Leucocytozoon. n 2 Bệnh do các loài đơn bào Leucocytozoon ký sinh trong hồng cầu (đôi khi thấy trong bạch cầu), gây ra xuất huyết, tan vỡ hồng cầu, dẫn đến thiếu máu và ỉa chảy phân xanh màu lá cây, làm gà chết với tỷ lệ cao tới 30 - 50%. Trong những năm gần đây, chăn nuôi gia cầm Bắc Giang phát triển khá mạnh.
Đây là tỉnh trung du miền núi phía Bắc có điều kiện thuận lợi cho chăn nuôi gà phát triển, đặc biệt là chăn nuôi gà thả vườn. Việc phòng bệnh bằng vacxin đã được người dân thực hiện khá đầy đủ, tuy nhiên một số đàn gà vẫn xuất hiện các triệu chứng như ỉa phân xanh, mặt tái, gà thiếu máu, gầy yếu. Mổ khám thấy chất chứa trong diều, dạ dày, ruột có màu xanh, gan sưng to, lách sưng và xuất huyết, cơ đùi xuất huyết. Câu hỏi được đặt ra là đàn gà đó mắc bệnh có phải là do đơn bào Leucocytozoon gây ra hay không? Vì vậy, việc nghiên cứu xác định sự tồn tại và gây bệnh của đơn bào Leucocytozoon trên đàn gà để có biện pháp phòng trị có hiệu quả là rất cần thiết.
Xuất phát từ nhu cầu cấp bách của thực tế chăn nuôi gà tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tình hình nhiễm, đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh đơn bào đường máu Leucocytozoon ở gà nuôi tại huyện Tân Yên – tỉnh Bắc Giang và thử nghiệm quy trình phòng bệnh”. Mục tiêu đề tài - Xác định được tình hình nhiễm, đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh Leucocytozoon ở đàn gà nuôi tại một số địa phương thuộc huyện Tân Yên - tỉnh Bắc Giang. - Xây dựng quy trình phòng bệnh, góp phần hạn chế những thiệt hại do bệnh Leucocytozoon gây ra cho đàn gà ở huyện Tân Yên - tỉnh Bắc Giang nói riêng và các tỉnh trung du miền núi phía Bắc nói chung. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học Nghiên cứu đề tài để có những thông tin khoa học về tình hình nhiễm, đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà tại một số địa phương thuộc huyện Tân Yên - tỉnh Bắc Giang, đồng thời có cơ sở khoa học để xây dựng quy trình phòng trị bệnh đơn bào Leucocytozoon cho gà có hiệu quả cao. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở để khuyến cáo người chăn nuôi gà áp dụng các biện pháp phòng trị bệnh đơn bào Leucocytozoon, nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon cho gà, hạn chế thiệt hại do Leucocytozoon gây ra, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy chăn nuôi gà nói riêng và chăn nuôi gia cầm phát triển nói chung. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Ký sinh trùng là những sinh vật sinh trưởng và phát triển trong hoặc trên cơ thể một sinh vật khác - gọi là ký chủ, chiếm đoạt chất dinh dưỡng của ký chủ mà nó ký sinh.
Trong phân loại học, dựa theo cấu trúc cơ thể của ký sinh trùng mà người ta chia những ký sinh trùng động vật ra làm 3 ngành: nguyên trùng, giun sán và tiết túc. Trong đó, nguyên trùng là ký sinh trùng đơn bào (protozoa), cơ thể chỉ gồm một tế bào, thường ký sinh trong máu (Trypanosoma, Histomonas, Leucocytozoon…) hoặc trong ruột ký chủ (cầu trùng) (Dương Công Thuận, 1995) [27]. Bệnh do đơn bào Leucocytozoon gây ra có ở nhiều nước trên thế giới. Tỷ lệ lưu hành Leucocytozoon trên đàn gà ở một số nước Châu Á khá cao: ở Trung Quốc (7,1%), Thái Lan (13 - 18%), Malaysia (15 - 31%).
Leucocytozoon ký sinh trong hồng cầu gà, đôi khi ký sinh trong bạch cầu (tùy theo loài), làm tan vỡ hồng cầu, gây bần huyết và gây chết gà với tỷ lệ cao, ảnh hưởng đến thu nhập của người chăn nuôi gà. Bệnh cũng được phát hiện ở nhiều loài chim hoang dã. Đặc điểm của đơn bào Leucocytozoon ký sinh ở gà 2. Vị trí của đơn bào Leucocytozoon trong hệ thống phân loại động vật Đơn bào nói chung là những nguyên sinh động vật không có khí quan di động, thân thể khi thì trần và có thể biến dạng được, khi thì có màng bọc và có hình dạng nhất định.
Đơn bào sống ký sinh ở các tế bào, các mô hay dịch thể, có thể suốt đời hoặc những giai đoạn đầu của nó. Chúng tự nuôi dưỡng bằng cách thẩm thấu dinh dưỡng chiếm đoạt của ký chủ qua bề mặt cơ thể. Các loài đơn bào thuộc giống Leucocytozoon ký sinh trong máu của nhiều loài gia cầm, thủy cầm, chim và nhiều loài chim hoang dã. Gà là vật chủ cảm thụ đơn bào Leucocytozoon mạnh nhất.
Bệnh được Ziemann phát hiện lần đầu tiên vào năm 1898. Từ đó đến nay, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh. (1985) [38], Leucocytozoon gây bệnh cho gà có vị trí trong hệ thống phân loại như sau: Ngành Protozoa Lớp Sporozoa Bộ Haemosporidia Họ Leucocytozoidae Giống Leucocytozoon Loài L. schoutedeni (Rodham Pons et Bequaert, 1913) Đến nay, các nhà khoa học đã phát hiện được 107 loài Leucocytozoon spp.
ký sinh và gây bệnh cho gà, gà tây, vịt, ngỗng và nhiều loài chim hoang dã. Đặc điểm hình thái các loài Leucocytozoon ở gà Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9]; Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [12], cơ thể đơn bào thường do một tế bào rất nhỏ cấu thành, tổ chức của đơn bào gồm màng tế bào, chất nguyên sinh, hạt hoặc nhân tế bào. Đơn bào Leucocytozoon ký sinh ở hồng cầu, bạch cầu, các nội tạng của gà và các loài chim ở hai dạng: dạng tiểu thể hình dùi trống, hoặc hình thoi nhọn hai đầu với kích thước từ 15 - 20 µm; dạng bào tử hình trứng với kích thước từ 20 - 25 µm. Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [14] cho rằng: trong quá trình phát triển ở ký chủ cũng như ở véc tơ trung gian truyền bệnh, các loài Leucocytozoon có nhiều hình dạng khác nhau.
Kích thước của chúng thay đổi tuỳ thuộc dạng và loài đơn bào Leucocytozoon. n 6 - Dạng bào tử (Sporozoite): hình thuẫn, hình elíp nhọn 2 dầu, kích thước 10 - 15 µm. Thể này thấy ở tuyến nước bọt của dĩn (vector trung gian truyền bệnh). - Dạng tiểu thể (Merozoite): hình tròn hoặc hình trứng, kích thước 15 - 20 µ m.
- Dạng giao tử (Schizont): hình elíp, thon nhỏ 2 đầu, kích thước 20 - 45 µm. - Dạng đại giao tử (Macrogametocyte): hình đa giác hoặc gần tròn, kích thước 350 - 400 µm. - Dạng tiểu phối tử (Microgametocyte): hình thuẫn hoặc hình trứng, kích thước 20 - 25 µm. Theo Phạm Sỹ Lăng và Tô Long Thành (2006) [15]; Phạm Sỹ Lăng và cs (2008) [16], hai loài L.
sabrazeis có hình dạng gần giống nhau, chỉ khác về tính chất gây bệnh. Chúng có dạng hình cầu, hình bầu dục, hình lưỡi liềm; kích thước 20 x 5 µm, không có sắc tố khi nhuộm Giemsa, ký sinh ở hồng cầu của gà, gà rừng. Vòng đời của Leucocytozoon ở gà Saif Y. (2003) [46] cho rằng: giai đoạn sinh bào tử diễn ra trên vật chủ trung gian và có thể được hoàn thành sau 3 - 4 ngày.
Noãn nang phát triển và có thể tìm thấy trong đường tiêu hóa của dĩn (vector trung gian truyền bệnh) trong vòng 12 giờ sau khi dĩn hút máu. Sau đó các noãn nang này di chuyển đến tuyến nước bọt của dĩn, có thể tìm thấy noãn nang ở tuyến nước bọt dĩn sớm nhất sau khi dĩn hút máu gà bệnh 18 ngày. Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [14] cho biết: các loài Leucocytozoon có vòng đời rất phức tạp, cần vector trung gian truyền bệnh là các loài dĩn thuộc giống Simulium spp. và Culiloides spp.
Tùy đặc điểm thời tiết, khí hậu của từng vùng sinh thái khác nhau mà thành phần loài dĩn cũng thay đổi. Sau khi mầm bệnh xâm nhập vào dĩn do dĩn hút máu gà bệnh, các tiểu thể (Merozoite) phát triển qua một số giai đoạn ở vách dạ dày của dĩn thành noãn nang và cuối cùng thành thể bào tử (Sporozoite). Thể bào tử chuyển lên tuyến nước bọt của dĩn sau thời gian phát triển khoảng 25 ngày. Khi dĩn hút n 7 máu các loài vật chủ (gà, các loài gia cầm khác và chim hoang dã) sẽ truyền mầm bệnh vào máu của vật chủ.
Các bào tử từ máu xâm nhập vào các tế bào nội quan như: gan, lách, phổi, thận, tổ chức cơ để trở thành giao tử (Schizont). Các giao tử vào hồng cầu phát triển thành tiểu thể (Merozoite), giao tử thể (Gametocyte), đại giao tử (Marcrogametocyte) và tiểu giao tử (Mircrogametocyte).