ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, bệnh truyền nhiễm đang là mối quan tâm hàng đầu bởi tỷ lệ người mắc bệnh tăng nhanh, tỷ lệ tử vong cao mặc dù y tế được chú trọng phát triển. Đặc biệt, các biện pháp phòng và điều trị bệnh gặp nhiều khó khăn do sự xuất hiện của các chủng virus mới. Dịch bệnh COVID-19 gây ra bởi virus SARS-CoV-2 khởi phát tại Trung Quốc và được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) công bố là đại dịch vào ngày 11 tháng 3 năm 2020 [46]. Bệnh dịch này có sự bùng phát lây lan trên toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng với tốc độ nhanh chóng làm ảnh hưởng lớn đến sức khỏe, kinh tế của người dân.
Từ những ca lây nhiễm đầu tiên tại Trung Quốc, số ca mắc bệnh virus Corona 2019 đã tăng nhanh chóng và lây lan hầu hết các quốc gia trên thế giới. Theo thống kê của WHO năm 2020, Châu Âu báo cáo số ca nhiễm tăng cao nhất (34%), Châu Phi báo cáo số ca tử vong tăng đáng kể, tăng 27%, Đông Nam Á báo cáo số ca nhiễm mới và tử vong giảm lần lượt là 6% và 8% [46]. Việt Nam, trước khi làn sóng dịch COVID-19 lần thứ 4 (tháng 4/2021) bùng phát, đã thành công trong việc ngăn chặn các đợt bùng phát cộng đồng mặc dù vẫn có sự xâm nhập của các trường hợp nhiễm SARS-CoV-2 qua đường nhập cảnh. Tuy nhiên, việc xâm nhập của biến thể Delta với khả năng siêu lây nhiễm phát hiện lần đầu vào tháng 4 năm 2021 đã đe dọa thành công của Việt Nam trong việc kiểm soát dịch COVID-19 [1].
Tỉnh Bắc Giang là nơi có số lượng ca mắc COVID – 19 cao nhất trong quý II năm 2021 với tổng số ca mắc COVID-19 là trên 2000 trường hợp [7]. Trong quý III, tình hình dịch bệnh tiếp tục diễn biến phức tạp tại miền Nam với số lượng ca mắc vượt nửa triệu người, số ca tử vong vượt 10. Trong bối cảnh hiện nay, bệnh truyền nhiễm vẫn đang là mối lo ngại và quan tâm hàng đầu. Việc thực hiện các biện pháp phòng chống dịch 2 bệnh luôn được nâng cao và phát triển.
Cộng đồng là một môi trường đặc biệt, mới khả năng kiểm soát thấp trong việc tránh lây nhiễm qua tiếp xúc. Đây là môi trường tạo điều kiện thuận lợi cho dịch bệnh lây lan và phát triển một cách nhanh chóng và khó kiểm soát. Huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang là nơi có tỷ lệ mắc COVID-19 tương đối cao trong giai đoạn 2021-2022, vì thế việc phòng chống đại dịch COVID tại đây rất được quan tâm đến. Mặc dù, việc phòng chống dịch bệnh Covid-19 hiện nay đã không còn trong giai đoạn cấp bách, nhưng vẫn còn có các dịch bệnh nguy hiểm mới nối khác có thể xảy ra bất cứ lúc nào nếu người dân không có đủ năng lực về kiến thức lẫn thực hành phòng chống dịch bệnh.
Do vậy thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của người dân về phòng chống Covid-19 như thế nào? Liệu có tuân thủ đúng theo quy định? Có những yếu tố nào liên quan đến kiến thức, thái độ thực phòng chống dịch bệnh của người dân hay không? Đây là những vấn đề quan trọng cần thiết được đánh giá, và cũng là lý do để chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài về “Kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống dịch COVID-19 của người dân huyện Việt Yên, Bắc Giang năm 2024 và một số yếu tố liên quan” với 2 mục tiêu: 1. Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống dịch COVID-19 của người dân huyện Việt Yên, Bắc Giang năm 2024. Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống dịch COVID-19 của đối tượng nghiên cứu. Một số khái niệm liên quan đến COVID – 19 Dịch là sự xuất hiện bệnh truyền nhiễm với số người mắc bệnh vượt quá số người mắc bệnh dự tính bình thường trong một khoảng thời gian xác định ở một khu vực nhất định [1].
Cách ly y tế là việc tách riêng người mắc bệnh truyền nhiễm, người bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm, người mang mầm bệnh truyền nhiễm hoặc vật có khả năng mang tác nhân gây bệnh truyền nhiễm nhằm hạn chế sự lây truyền bệnh [1], [23]. Virus Corona (CoV): thuộc họ Coronaviridae thuộc phân họ Coronavirinae. Các virus thuộc họ này có nhiều loại vật chủ khác nhau và việc truyền bệnh từ động vật sang người giữa các loài là phổ biến, có thể gây ra các bệnh viêm đường hô hấp cấp tính nguy hiểm, đe dọa tính mạng người bệnh như Hội chứng hô hấp cấp tính nặng (SARS – CoV) năm 2002 và Hội chứng hô hấp Trung Đông (MERS – CoV) năm 2012 [1]. SARS – CoV – 2: là virus Hội chứng hô hấp cấp tính nặng Corona – 2, một chủng mới của virus Corona, đã được xác định là căn nguyên gây dịch viêm đường hô hấp cấp tính (COVID – 19) [1].
COVID – 19: là bệnh do virus SARS - CoV – 2 gây ra được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Ủy ban quốc tế về phân loại virus (ICTV) đặt tên [46]. Dịch tễ học bệnh COVID – 19 1. Nguồn gốc phát sinh và đường lây truyền 1. Nguồn gốc phát sinh Phân tích toàn bộ bộ gen cho thấy SARS – CoV – 2 là một Betacoronavirus, khác biệt với các Betacoronavirus liên quan đến hội chứng hô hấp cấp tính nặng ở người (SARS) và hội chứng hô hấp Trung 4 Đông (MERS) [21],[46].
Động vật được bán để làm thức ăn bị nghi ngờ là vật chứa hoặc trung gian cho virus vì trong số 41 trường hợp mắc bệnh ban đầu, 60% người mắc bệnh có lịch sử tiếp xúc với chợ hải sản Hoa Nam [46],[50]. Đường lây truyền Đường lây của Virus Corona được xác định lây từ người sang người. Virus Corona chủ yếu lây lan qua các giọt bị bắn ra trong không khí khi một cá nhân bị nhiễm bệnh ho hoặc hắt hơi hoặc tiếp xúc gián tiếp với các chất tiết của người bệnh qua đồ vật, môi trường xung quanh [1], [46]. Triệu chứng lâm sàng [1] Giai đoạn khởi phát: - Thời gian ủ bệnh: từ 2-14 ngày, trung bình từ 5-7 ngày - Hiện tại phổ biến ở Việt Nam là chủng Omicron - Triệu chứng: sốt, ho khan, mệt mỏi, đau họng, đau đầu.
Một số trường hợp bị nghẹt mũi, chảy nước mũi, mất vị giác và khứu giác, buồn nôn, tiêu chảy, đau bụng… Giai đoạn toàn phát: - Sau 4 - 5 ngày. Hô hấp - Ho nhiều hơn, đau ngực, cảm giác ngạt thở, sợ hãi, tuỳ mức độ người bệnh, thở sâu, phổi thường không ral, mạch thường không nhanh. Khoảng 5-10% người bệnh có thể giảm oxy máu thầm lặng. Những trường hợp này người bệnh không có cảm giác khó thở nhưng SpO2 giảm rất dễ bị bỏ qua.
Thể nặng của bệnh có biểu hiện giống ARDS. Tuần hoàn - Các triệu chứng thường không đặc hiệu: đau ngực, mệt mỏi, khó thở, ho. 5 - Sốc tim: huyết áp tụt, mạch nhanh, rối loạn nhịp, da, đầu chi lạnh, gan to, tĩnh mạch cổ nổi. - Rối loạn nhịp chậm hoặc nhanh, suy tim cấp và sốc tim do suy tim trái (như Hội chứng trái tim vỡ, viêm cơ tim) hoặc suy tim phải cấp, thuyên tắc động mạch phổi, tràn dịch màng ngoài tim, nhồi máu cơ tim cấp, sốc nhiễm khuẩn thứ phát do COVID-19, tâm phế cấp (Acute cor pulmonary).
Thận - Lâm sàng: Người bệnh có thể thiểu niệu hoặc đái nhiều, nước tiểu có protein, đái máu vi thể hoặc đại thể, các biểu hiện của hội chứng ure máu cao ít gặp, nhưng thường nặng trên người bệnh đã có suy thận từ trước. - Chẩn đoán AKI và mức độ dựa vào creatinin huyết tương và thể tích nước tiểu. Thần kinh - Lâm sàng xuất hiện đột ngột: Rối loạn ý thức theo các mức độ: nhẹ thì còn tỉnh, nặng nhất là hôn mê. Hội chứng liệt nửa người: liệt vận động có hoặc không tê bì, dị cảm.
Mất thị lực, bán manh, góc manh. Liệt dây thần kinh sọ. Rối loạn cơ tròn. Giảm hoặc mất khứu giác.
Viêm não màng não, thoái hoá não, viêm đa rễ và dây thần kinh như hội chứng Guillain Barre, bệnh não do COVID-19. Dạ dày-ruột - Vi rút xâm nhập vào tế bào dẫn tới viêm tế bào biểu mô làm giảm hấp thu, mất cân bằng bài tiết ở ruột và hoạt hóa hệ thống thần kinh của ruột, dẫn tới ỉa chảy. Ngoài ra có thể do dùng kháng sinh hay do thay đổi hệ vi sinh vật ở ruột, ít gặp hơn có thể liên quan đến huyết khối tắc mạch mạc treo. Tỷ lệ xuất hiện tiêu chảy từ 2 - 50% trong những người bệnh nhiễm COVID-19.
Tiêu chảy phân lỏng cũng có khi phân toàn nước 7 - 8 lần/ngày và thường xuất hiện vào ngày thứ tư của khởi phát bệnh. 6 Giai đoạn hồi phục: - Đối với trường hợp nhẹ và trung bình, sau 7 - 10 ngày, người bệnh hết sốt, toàn trạng khá lên, tổn thương phổi tự hồi phục, có thể gặp mệt mỏi kéo dài. - Những trường hợp nặng: Biểu hiện lâm sàng kéo dài, hồi phục từ 2 - 3 tuần, mệt mỏi kéo dài đến hàng tháng. - Những trường hợp nguy kịch có thể phải nằm hồi sức kéo dài nhiều tháng, có thể tiến triển xơ phổi, ảnh hưởng tâm lý, yếu cơ kéo dài.
- Một số trường hợp sau nhiễm SARS-CoV-2, gặp các rối loạn kéo dài: xơ phổi, bệnh lý tự miễn, hội chứng thực bào. Chẩn đoán [1] a) Trường hợp bệnh nghi ngờ Là người có yếu tố dịch tễ và có ít nhất 3 trong số các triệu chứng sau: sốt; ho; đau người, mệt mỏi, ớn lạnh; đau, nhức đầu; đau họng; chảy nước mũi, nghẹt mũi; giảm hoặc mất khứu giác; giảm hoặc mất vị giác; buồn nôn; nôn; tiêu chảy; khó thở. Là người có yếu tố dịch tễ và biểu hiện viêm đường hô hấp cấp tính nặng (SARI), viêm phổi nặng nghi do vi rút (SVP) có chỉ định nhập viện. Là người không có đủ biểu hiện lâm sàng như ở điểm (a) nhưng có kết quả xét nghiệm kháng nguyên dương tính với vi rút SARS-CoV-2.
Người có yếu tố dịch tễ là người tiếp xúc gần với người bệnh khẳng định/nghi ngờ hoặc người sống trong khu vực ổ dịch đang hoạt động. b) Trường hợp bệnh xác định Là người có kết quả xét nghiệm dương tính với vi rút SARS-CoV-2 bằng phương pháp phát hiện vật liệu di truyền của vi rút (Realtime RT- PCR). 7 Là người có triệu chứng lâm sàng: sốt; ho; đau người, mệt mỏi, ớn lạnh; đau, nhức đầu; đau họng; chảy nước mũi, nghẹt mũi; giảm hoặc mất khứu giác; giảm hoặc mất vị giác; buồn nôn; nôn; tiêu chảy; khó thở.