Tài liệu: Nghiên cứu bệnh cầu trùng ở gà tại một số xã thuộc huyện phù

Nghiên cứu bệnh cầu trùng gà tại Phù Ninh, Phú Thọ. Khám phá nguyên nhân, triệu chứng và biện pháp phòng trị hiệu quả cho gia cầm.

Chuyên ngành

Thú Y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2023

113
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về bệnh cầu trùng ở gà

Bệnh cầu trùng ở gà là một bệnh ký sinh trùng phổ biến gây ảnh hưởng đáng kể đến sản xuất chăn nuôi gà tại các xã thuộc huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Bệnh được gây ra bởi các loài Eimeria spp như E. necatrix, E. brunetti, E. maxima và E. acervulina, chủ yếu tấn công hệ thống tiêu hóa của gà. Các oocyst cầu trùng có khả năng sống sót lâu dài trong môi trường, đặc biệt là ở nền chuồng, vườn chăn thả và trong thức ăn, nước uống. Nghiên cứu này nhằm xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng ở các nhóm tuổi gà khác nhau, từ đó đề xuất các biện pháp phòng trị hiệu quả cho nông dân.

1.1. Đặc điểm sinh học của Eimeria spp

Eimeria spp là ký sinh trùng nội bào gây bệnh tiêu chảy ở gà. Chu kỳ sống của chúng bao gồm giai đoạn không tính hành động và giai đoạn hình thành oocyst. Oocyst có vỏ cứng, khó bị tiêu hủy bởi nhiệt độ và hóa chất thông thường, cho phép chúng tồn tại trong môi trường ngoài cơ thể gà trong thời gian dài, tạo điều kiện lây truyền bệnh.

1.2. Tác động của bệnh cầu trùng đến gà

Bệnh cầu trùng gây ra tiêu chảy máu, giảm khả năng hấp thụ dinh dưỡng và làm tổn thương lớp niêm mạc ruột. Gà bị nhiễm cầu trùng thường suy nhược, tăng tỷ lệ mắc bệnh thứ cấp do vi khuẩn E. coli và các mầm bệnh khác. Tổn thương vi thể ở cơ quan tiêu hóa là dấu hiệu quan trọng chẩn đoán bệnh.

II. Đặc điểm dịch tễ bệnh cầu trùng ở gà

Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh cầu trùng tại một số xã thuộc huyện Phù Ninh đã cho thấy tỷ lệ nhiễm khác nhau tùy thuộc vào lứa tuổi và phương thức chăn nuôi. Gà non dưới 8 tuần tuổi có tỷ lệ nhiễm cao nhất, đặc biệt ở những cơ sở chăn nuôi không đảm bảo vệ sinh thú y. Sự ô nhiễm oocyst ở nền chuồng, vườn chăn thả và trong thức ăn, nước uống là những nguồn lây chính. Mức độ cường độ nhiễm cầu trùng được xác định thông qua xét nghiệm phân tích mẫu phân gà, cho phép phát hiện và đánh giá mức độ nghiêm trọng của bệnh.

2.1. Tỷ lệ nhiễm cầu trùng theo lứa tuổi

Gà non từ 2-8 tuần tuổi là nhóm dễ bị nhiễm cầu trùng nhất do hệ miễn dịch chưa phát triển đầy đủ. Tỷ lệ nhiễm giảm dần ở gà trưởng thành do phát triển miễn dịch đặc hiệu. Phương thức chăn nuôi kíntỷ lệ nhiễm thấp hơn so với chăn nuôi bán mởmở.

2.2. Ô nhiễm oocyst trong môi trường

Oocyst cầu trùng được phát hiện cao ở nền chuồng, vựa đất trong vườn chăn thả. Nước uốngthức ăn bị ô nhiễm từ phân gà là những yếu tố lây truyền chính. Điều kiện ẩm ướt, nhiệt độ thích hợp (25-30°C) tăng khả năng phát triển và lây lan oocyst trong môi trường chăn nuôi.

III. Biểu hiện lâm sàng và bệnh lý của bệnh cầu trùng

Gà bị bệnh cầu trùng thường biểu hiện tiêu chảy với màu phân xanh, xám hoặc có máu tùy loài Eimeria gây bệnh. Những biểu hiện lâm sàng chủ yếu bao gồm suy nhược, mất cảm thị, giảm ăn, lông xù. Sự thay đổi chỉ tiêu huyết học như giảm số lượng hồng cầu, hematocrit và hemoglobin được quan sát ở gà bị cầu trùng nặng. Tổn thương đại thể trên ruột non và ruột già bao gồm sưng phù, chảy máu, hoại tử niêm mạc. Tổn thương vi thể thể hiện viêm mô, tăng sinh tế bào miễn dịch, hoại tử tế bào biểu mô. Những tổn thương này xác nhận chẩn đoán bệnh và giúp đánh giá mức độ nghiêm trọng.

3.1. Biểu hiện lâm sàng chủ yếu

Tiêu chảy máu, suy nhược, mất cảm thị là biểu hiện lâm sàng điển hình. Gà giảm ăn, uống nước tăng, lông xù, ngồi co cụm ở góc chuồng. Các biểu hiện nặng hơn ở gà non và gà bị nhiễm loài E. necatrix.

3.2. Tổn thương bệnh lý

Tổn thương đại thể bao gồm sưng phù ruột non, chảy máu niêm mạc, hoại tử tế bào biểu mô. Tổn thương vi thể thể hiện viêm mũn, tăng sinh tế bào lympho, hoại tử. Mức độ tổn thương phụ thuộc vào loài Eimeria và cường độ nhiễm cầu trùng.

IV. Biện pháp phòng và điều trị bệnh cầu trùng

Biện pháp phòng bệnh cầu trùng cho gà bao gồm các yếu tố về vệ sinh thú y, quản lý môi trường, nutrition và kiểm soát ký sinh trùng. Vệ sinh chuồng trại thường xuyên, đảm bảo nước uống sạch, thức ăn không bị ô nhiễm oocyst là những yêu cầu cơ bản. Phác đồ điều trị sử dụng thuốc anticoccidial như amprolium, sulfaquinoxaline hoặc ionophores (salinomycin) có hiệu quả cao. Nghiên cứu so sánh 2 phác đồ điều trị cho thấy sự khác biệt về hiệu quả, thời gian hồi phục và chi phí. Đề xuất biện pháp phòng trị kết hợp vệ sinh, kiểm soát mật độ gà, sử dụng probiotic và hỗ trợ dinh dưỡng tạo lợi thế trong phòng chống bệnh.

4.1. Biện pháp phòng bệnh hiệu quả

Vệ sinh thú y thường xuyên, đảm bảo nước uống sạch, lắp đặt hệ thống thoát nước tốt để tránh ẩm ướt. Giảm mật độ gà trên một đơn vị diện tích, quản lý tuổi đàn đồng loạt, sử dụng probiotic và vệ sinh đầu vào (thức ăn, chim, dụng cụ).

4.2. Phác đồ điều trị bệnh cầu trùng

Amprolium 20% 200 mg/kg cân nặng/ngày trong 5-7 ngày hoặc salinomycin 120 mg/kg thức ăn là những phác đồ phổ biến. So sánh 2 phác đồ điều trị cho thấy salinomycin có tác dụng nhanh hơn, hồi phục tốt hơn nhưng chi phí cao. Biện pháp hỗ trợ bao gồm bổ sung chất điện giải, vitamin nhóm B, khuyến khích ăn uống để phục hồi sức khỏe.

18/12/2025
Nghiên cứu bệnh cầu trùng ở gà tại một số xã thuộc huyện phù ninh tỉnh phú thọ và biện pháp phòng trị

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học 1. Những hiểu biết về cầu trùng ký sinh ở gà 1. Phân loại cầu trùng gà Đã có nhiều nhà khoa học đề cập đến các loài cầu trùng hiện đang ký sinh, gây bệnh cho gà Việt Nam và vị trí của cầu trùng trong hệ thống phân loại động vật học.

Lương Văn Huấn và cs. (1997) đã phân loại cầu trùng ký sinh ở gà như sau: Ngành nguyên sinh động vật Protozoa. Phân ngành Apicomplexa Lớp Sporozoasida Phân lớp Coccidiasina Bộ Eucoccidiorida Phân bộ Eimeriorina Họ Eimeriidae Giống Eimeria (Schneider, 1875) Loài Eimeria tenella (Railliet and Lucei, 1891) Loài Eimeria maxima (Tyzzer,1929) Loài Eimeria acervulina (Tyzzer,1929) Loài Eimeria mivati (Edgar and Seibold, 1964) Loài Eimeria brunetti (Levine, 1942) Loài Eimeria mitis (Tyzzer, 1929) Loài Eimeria hagani (Levine, 1938) Loài Eimeria necatrix (Jonson, 1930) Loài Eimeria praecox (Jonson, 1930) Ở nước ta, từ những năm đầu thập kỷ 70, bệnh cầu trùng gà và các loài cầu trùng ký sinh ở gà đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Các kết quả nghiên cứu thấy có 4 loài cầu trùng gây bệnh ở các trại gà: E.

Gà nuôi theo phương thức công 16 nghiệp ở một số trại gà phía Nam thường nhiễm 5 loài cầu trùng là: E. Hoàng Thạch (1999) xác định rằng, có 6 loài cầu trùng ký sinh ở gà tại TP. Hồ Chí Minh và một số vùng phụ cận, đó là các loài: E. Bệnh cầu trùng là một trong những bệnh ký sinh trùng truyền nhiễm rất nguy hiểm ở động vật do một nhóm nguyên sinh động vật đơn bào ngành Protozoa, lớp Sporozoa, bộ Coccidae, chủng Eimeria, 2 giống Eimeria và Isospora gây ra.

Bệnh gây chết với tỷ lệ cao, đặc biệt là ở súc vật non, đặc biệt là ở gà và thỏ. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, tỷ lệ chết ở gà con, thỏ con có thể lên tới 80 - 100 %. Đã có nhiều nước có trình độ khoa học kỹ thuật thú y tiên tiến trên thế giới cũng chịu nhiều tổn thất do bệnh cầu trùng gây ra như: năm 1980, Hungari đã tổn thất 115 triệu Forints, năm 1981 Pháp đã phải chi phí cho bệnh cầu trùng gà tới 70 triệu Frans. Chính vì vậy, bệnh cầu trùng được coi là một trong những bệnh ký sinh trùng khó kiểm soát.

Bệnh cầu trùng lây lan nhanh trong các đàn gà, đặc biệt là trong điều kiện chăn nuôi tập trung, điều kiện vệ sinh thú y kém, công tác quản lý và chăn nuôi không đảm bảo. Cầu trùng ký sinh trong đường tiêu hoá của gà, làm tổn thương đường tiêu hóa, làm cho gà sinh trưởng và phát triển kém, sức khỏe giảm sút, dễ mắc bệnh kế phát và gà có thể chết nếu không điều trị kịp thời. Cầu trùng thuộc nhóm động vật đơn bào có hình thái đa dạng, từng loài cầu trùng khác nhau mà chúng sẽ có hình thái khác nhau như hình hơi tròn, hình trứng, hình bầu dục…, chúng ký sinh chủ yếu ở tế bào biểu bì ruột của nhiều loài gia súc, gia cầm và kể cả con người. Đặc điểm hình thái một số loài cầu trùng * Cấu trúc của Oocyst cầu trùng Hình dạng phổ biến nhất là hình cầu, hình bầu dục hoặc hình elip và kích thước của các loài phổ biến nằm trong khoảng 15 - 50µm.

Noãn nang có vỏ có tính khúc xạ và một số loài có lỗ nhỏ ở một đầu, lỗ nhỏ, thường được bao phủ bởi một nắp có cực có thể nổi rõ. Hình thái một số loại Oocyst được tác giả Tyzzer nghiên cứu vào năm 1929 mô tả như sau: 17 - Loài Eimeria tenella: Oocyst hình bầu dục, kích thước 14,2 - 20,0 x 9,5 - 24,8µ không có lỗ noãn, màu xanh nhạt. Đây là loài gây bệnh mạnh nhất ở gà con. Thời gian sản sinh bào tử là 18 - 48 giờ.

Loài này ký sinh ở manh tràng gà. - Loài Eimeria maxima: Oocyst hình bầu dục, kích thước 21,4 - 42,5 x 16,5 - 29,8µ không có lỗ noãn, màu hơi vàng, vỏ hơi xù xì. Thời gian sản sinh bào tử là 30 - 48 giờ. Loài này ký sinh ở phần giữa của ruột non.

- Loài Eimeria acervulina: Oocyst hình bầu dục, kích thước 16,0 - 20,3 x 12,7 - 16,3µ, có lỗ noãn, không màu. Thời gian sản sinh bào tử là 13 - 17 giờ nhiệt độ 28 - 30oC. Loài này có thời gian sinh bào tử là ngắn nhất so với thời gian sinh bào tử của các loài cầu trùng khác và thường ký sinh ở đoạn đầu của ruột non. - Loài Eimeria mivati: Oocyst hình trứng, kích thước 10,7 - 20,0 x 10,1 - 15,3µ có lỗ noãn, không màu.

Thời gian sản sinh bào tử là 18 - 21 giờ. Loài này ký sinh ở tá tràng. Loài Eimeria mitis: Oocyst hình hơi tròn, kích thước 11 - 19 x 10 - 17µ không màu, không có lỗ noãn. Thời gian sản sinh bào tử là 24 giờ.

Sau khi nhiễm vào cơ thể 36 giờ, trong các tế bào biểu bì nhung mao thấy những thể phân lập thành thục, thường có 6 - 21 thể phân đoạn và các giao tử được hình thành vào ngày thứ 5, ký sinh ở ruột non và ruột già. - Loài Eimeria hagani: Oocyst hình bầu dục, kích thước 15,8 - 29,9 x 14,3 - 29,5µ, không có lỗ noãn, không màu. Loài này có thời gian sản sinh bào tử là 48 giờ và ký sinh ở phần đầu của ruột non. - Loài Eimeria necatrix: Oocyst có hình bầu dục, kích thước 13 - 20 x 13,1 - 18,3µ không màu, không có lỗ noãn.

Thời gian sản sinh bào tử là 24 - 36 giờ. Loài này ký sinh ở ruột non và manh tràng. - Loài Eimeria praecox: Oocyst hình bầu dục, kích thước 16,6 - 27,7 x 14,8 - 19,4µ, không màu, không có lỗ noãn. Thời gian sản sinh bào tử là 24 - 36 giờ.

Loài này ký sinh ở đoạn đầu ruột non. Vòng đời phát triển của cầu trùng Vì có cấu trúc và vòng đời phức tạp cũng như khả năng thích nghi nhanh để tiếp tục phát triển, nên cầu trùng có khả năng phát tán rộng rãi và tồn tại lâu ngoài môi trường. 18 Vòng đời được tính từ khi gà ăn phải nang bào tử của cầu trùng có trong thức ăn, nước uống bị nhiễm từ nền chuồng vào cho đến khi tìm thấy noãn nang cầu trùng theo phân ra ngoài. Theo nhiều tác giả đã nghiên cứu và cho rằng, vòng đời của các loài cầu trùng thuộc giống Eimeria phát triển qua 3 giai đoạn gồm: giai đoạn sinh sản vô tính (Schizogony), giai đoạn sinh sản hữu tính (Gametogony), giai đoạn sinh sản bào tử (Sporogony).

Hai giai đoạn đầu thực hiện trong tế bào biểu mô ruột (Endogenic) – giai đoạn nội sinh sản, giai đoạn thứ 3 diễn ra ở ngoài cơ thể vật chủ (Exogenic) – giai đoạn ngoại sinh sản. Khi gà nuốt các Oocyst cầu trùng có sức vào cơ thể, dưới tác dụng của các enzyme tiêu hoá trong dạ dày và ruột non, vỏ của Oocyst bị vỡ, giải phóng ra các bào tử con (Sporocyst) (Pugatch và cs. * Giai đoạn sinh sản vô tính (Schizogony) Quá trình sinh sản vô tính diễn ra liên tục và lặp đi lặp lại nhiều lần theo hình thức trực phân để tạo ra các Schizont thế hệ III, IV,V,… Sau khi tạo thành các Schizont thế hệ cuối (tùy từng loài mà có thể dừng lại ở các Schizont thứ II, thứ III, thứ IV,…) thì sẽ chuyển sang giai đoạn sinh sản thứ 2, giai đoạn sinh sản hữu tính. Thời gian sinh sản vô tính kéo dài 3 - 22 ngày tuỳ loài cầu trùng.

* Giai đoạn sinh sản hữu tính (Gametogony) Giai đoạn sinh sản hữu tính được bắt đầu từ việc tạo ra các thể Gamet có hình dạng giống Schizont. Từ thể Gamet hình thành các Gametocyte đực và cái. Các Gametocyte đực và cái phát triển, qua nhiều lần phân chia hình thành các tế bào cái (đại phối tử), các tế bào đực (tiểu phối tử). Sau đó, giao tử đực di chuyển đến gặp giao tử cái và chui vào giao tử cái.

Trong giao tử cái diễn ra quá trình đồng hoá nhân và nguyên sinh chất để tạo thành hợp tử. Hợp tử tạo thành một màng bao bọc bên ngoài, lúc này nó được gọi là noãn nang (Oocyst). Những nghiên cứu của Bessay (1995) đã chỉ ra rằng, thời gian từ khi gà nhiễm noãn nang có sức gây bệnh đến khi gà thải Oocyst trong phân là 4,5 - 5 ngày (đối với loài E. mitis), 6,5 ngày (đối với loài E.

Tác giả Levine đã nghiên cứu vào năm 1942 cho biết, có 87 - 91% Oocyst loài E. hagani thải ra ban ngày nhưng tập trung nhất trong khoảng 15 - 21 giờ. 19 * Giai đoạn sinh sản bào tử (Sporogony) Giai đoạn sinh sản ngoài cơ thể (giai đoạn ngoại sinh): Sau khi hình thành hợp tử thì biến thành noãn nang (Oocyst), nguyên sinh chất và nhân tiếp tục quá trình phân chia tạo bào tử và hình thành nên bào tử con (noãn nang có sức gây bệnh). Giai đoạn này diễn ra ở môi trường bên ngoài cơ thể nên được gọi là giai đoạn sinh sản ngoại sinh.

Khi gia cầm nuốt phải noãn nang cầu trùng có sức gây bệnh vào đường tiêu hóa, noãn nang sẽ giải phóng các bào tử con, sau đó các bào tử con xâm nhập vào biểu mô ruột, lớn dần lên và tiếp tục vòng đời được lặp lại. Những hiểu biết về bệnh cầu trùng gà và các động vật khác Theo nghiên cứu của tác giả Lê Văn Năm (2003), bệnh cầu trùng ở gà nói riêng và bệnh cầu trùng gia súc, gia cầm nói chung là loại bệnh phổ biến trên khắp thế giới và ở cả Việt Nam. Bệnh được Luvenhuch A. phát hiện cách đây khoảng 379 năm.

Từ đó đến nay đã có nhiều nghiên cứu của các tác giả về đặc diểm dịch tễ, lâm sàng, bệnh lý, miễn dịch và thuốc điều trị bệnh cầu trùng. * Căn bệnh, ký chủ và vị trí ký sinh Căn bệnh: bệnh cầu trùng gà do các loài cầu trùng thuộc giống Eimeria gây ra. Ở nước ta, có từ 5 đến 8 loài cầu trùng gây bệnh cho gà. Theo nghiên cứu của Hoàng Thạch (1999), đã tìm thấy 8 loài cầu trùng gây bệnh cho gà tại miền Nam nước ta.

Hiện có 9 loài cầu trùng gây bệnh cho gà trên thế giới, trong đó loài E. paraecox chưa thấy xuất hiện tại Việt Nam. Bệnh cầu trùng gà là bệnh ký sinh trùng gây ra bởi nhóm nguyên sinh động vật Protoza, thuộc họ Eimeria. Cầu trùng ký sinh ở manh tràng và ruột non của gà, làm rối loạn tiêu hóa, gây tổn thương các tế bào thượng bì ruột, làm cho việc hấp thu các chất dinh dưỡng bị hạn chế, ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, giảm hiệu quả chuyển hóa thức ăn, từ đó làm giảm tăng trọng, gà còi cọc, chậm lớn và có thể chết.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ