Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong cơ cấu ngành nông nghiệp, chăn nuôi gia cầm đóng vai trò thiết yếu nhờ chu kỳ sản xuất ngắn, khả năng cung cấp nhanh nguồn thực phẩm giàu protein, axit amin thiết yếu và khoáng vi lượng, góp phần cải thiện sinh kế và phát triển kinh tế nông hộ. Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng quy mô đàn, áp lực dịch bệnh đường tiêu hóa trên gia cầm diễn biến ngày càng phức tạp. Trong đó, bệnh cầu trùng gà (Coccidiosis) do các đơn bào ký sinh gây ra là một trong những bệnh truyền nhiễm đường tiêu hóa phổ biến, gây thiệt hại nghiêm trọng cho người chăn nuôi. Bệnh làm tổn thương niêm mạc ruột, dẫn đến rối loạn hấp thu dinh dưỡng, khiến gà còi cọc, chậm lớn, giảm sản lượng trứng từ 10% đến 40% và có thể gây tỷ lệ tử vong cao ở gia cầm non (đặc biệt giai đoạn từ 2 đến 8 tuần tuổi).

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Luân Thị Giang được thực hiện tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên – một địa bàn vùng cao có điều kiện tự nhiên và tập quán chăn nuôi gia cầm chủ yếu theo phương thức bán chăn thả hoặc thả rông tận dụng, tiềm ẩn nguy cơ lưu hành mầm bệnh trong môi trường đất và chất độn chuồng.

Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể gồm 4 nội dung:

  1. Xác định tỷ lệ mắc bệnh cầu trùng ở gà tại một số xã thuộc huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Điều tra về lứa tuổi gà mẫn cảm với bệnh cầu trùng nhất.
  3. Tìm hiểu một số thuốc điều trị đặc hiệu đối với bệnh cầu trùng gà tại địa phương.
  4. Tìm hiểu và đề xuất một số biện pháp phòng bệnh hiệu quả cho gà.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn gà nuôi tại các nông hộ, phân chia theo 3 nhóm tuổi: từ 1 đến 14 ngày tuổi, từ 15 đến 30 ngày tuổi và từ 30 ngày tuổi trở lên (≥ 30 ngày tuổi).
  • Phạm vi không gian: Điều tra, lấy mẫu phân và theo dõi bệnh lý tại 3 xã: Lâu Thượng, Dân Tiến và Liên Minh thuộc huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, kết hợp thực nghiệm tại Trạm Thú y huyện Võ Nhai.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được tiến hành từ ngày 09 tháng 06 năm 2014 đến ngày 24 tháng 11 năm 2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và phân loại học ký sinh trùng

Cơ sở khoa học của đề tài dựa trên đặc điểm phân loại học của tác nhân gây bệnh: Cầu trùng thuộc ngành Động vật nguyên sinh (Protozoa), lớp Bào tử trùng (Sporozoa), bộ Eucoccidiorida, họ Eimeriidae, chủ yếu thuộc hai giống Eimeria và Isospora (trong đó giống Eimeria giữ vai trò gây bệnh chính trên gà). Tổng quan tài liệu xác định 9 loài Eimeria gây bệnh phổ biến trên gà gồm: E. tenella, E. necatrix, E. brunetti, E. mitis, E. maxima, E. acervulina, E. praecox, E. hagani, và E. mivati. Mỗi loài có tính chuyên biệt cơ quan ký sinh rõ rệt:

  • E. tenella khu trú tại manh tràng;
  • E. acervulina và E. praecox ký sinh ở tá tràng và phần trên ruột non;
  • E. maxima ký sinh ở đoạn giữa ruột non;
  • E. necatrix ký sinh ở ruột non và manh tràng;
  • E. brunetti ký sinh ở phần cuối ruột non, trực tràng và lỗ huyệt.

Về mặt sinh lý tiêu hóa, thức ăn lưu chuyển trong đường ruột gà rất nhanh (4 - 5 giờ ở gà con, 7 - 8 giờ ở gà trưởng thành), tạo điều kiện cho noãn nang sau khi xâm nhập nhanh chóng giải phóng bào tử thể, xâm nhập tế bào biểu mô ruột và hoàn thành vòng đời nội sinh - ngoại sinh trong khoảng 5 - 7 ngày. Quá trình phát triển gồm giai đoạn vô tính (trực phân Schizogonie tạo Merozoit) và giai đoạn hữu tính (tạo đại phối tử, tiểu phối tử, kết hợp thành hợp tử và bài thải noãn nang Oocyst ra môi trường).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

Khóa luận áp dụng hệ thống phương pháp nghiên cứu dịch tễ học và chẩn đoán ký sinh trùng thú y tiêu chuẩn:

  • Phương pháp lấy mẫu: Thu thập mẫu phân tươi ngẫu nhiên (3 - 5g/mẫu) mỗi tuần một lần tại các hộ chăn nuôi ở 3 xã khảo sát. Mẫu được bảo quản lạnh ở 4°C và xử lý xét nghiệm trong vòng 3 ngày.
  • Phương pháp xét nghiệm phù nổi Fulleborn: Dựa trên nguyên lý chênh lệch tỷ trọng giữa dung dịch nước muối bão hòa ($D = 1{,}18 - 1{,}20$) và noãn nang cầu trùng ($D = 1{,}01 - 1{,}02$). Mẫu phân được nghiền nát trong 40 - 50 ml nước muối bão hòa, lọc qua lưới thép vào lọ penicillin đầy tới miệng, đậy phiến kính tiếp xúc bề mặt dung dịch trong 30 phút rồi soi tìm noãn nang dưới kính hiển vi quang học ở độ phóng đại 100 lần.
  • Phương pháp đánh giá cường độ nhiễm: Quy ước dựa trên số lượng noãn nang trung bình đếm được trên một vi trường:
    • Nhiễm nhẹ (+): 1 - 3 noãn nang;
    • Nhiễm trung bình (++): 4 - 6 noãn nang;
    • Nhiễm nặng (+++): 7 - 8 noãn nang;
    • Nhiễm rất nặng (++++): trên 9 noãn nang.
  • Phương pháp mổ khám bệnh tích: Quan sát ngoại hình, mổ khám bộc lộ đường tiêu hóa để ghi nhận biến đổi đại thể tại tá tràng, không tràng, hồi tràng, manh tràng và trực tràng; cạo lớp niêm mạc làm tiêu bản dập soi kính hiển vi kiểm tra tổn thương và noãn nang.
  • Phương pháp thử nghiệm điều trị: Khảo sát hiệu lực của hai chế phẩm phòng trị thương mại:
    • VINACOC.ABC (hoạt chất chính: Sulphachlopyrazine sodium salt 30g/100g);
    • RTD-COCCISTOP (thành phần: Sulfadimidine 20g, Sulfadimethoxin 2g, Diaveridin 3g, Trimethoprim 8g trên 100g tá dược). Đánh giá tỷ lệ sạch noãn nang sau liệu trình 6 - 7 ngày bằng phương pháp Fulleborn.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê sinh học ứng dụng trong nghiên cứu chăn nuôi theo tài liệu của Nguyễn Văn Thiện (2000).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Công tác phục vụ sản xuất

Phần này phản ánh quá trình thực tập nghề nghiệp của tác giả tại Trạm Thú y huyện Võ Nhai:

  • Điều tra cơ bản địa bàn: Võ Nhai là huyện vùng cao phía Đông Bắc tỉnh Thái Nguyên, diện tích tự nhiên $845{,}10\text{ km}^2$, dân số 64.241 người (năm 2009) với mật độ 76 người/$\text{km}^2$, gồm 1 thị trấn (Đình Cả) và 14 xã. Khí hậu thuộc vùng cận nhiệt đới ẩm, nhiệt độ trung bình 25°C, lượng mưa trung bình 2000 - 2500 mm/năm. Tổng đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn huyện duy trì tương đối lớn (11.000 con trâu, 30.000 con lợn), chăn nuôi gà chủ yếu theo quy mô nông hộ, phân tán.
  • Nội dung công tác kỹ thuật: Tác giả tham gia tuyên truyền phòng chống dịch bệnh, hướng dẫn vệ sinh tiêu độc chuồng trại, trực tiếp triển khai tiêm phòng vắc-xin và điều trị các bệnh phổ biến trên đàn vật nuôi:
    • Tiêm vắc-xin Tụ huyết trùng (THT) và Lở mồm long móng (LMLM) cho 53 con trâu và 84 con bò (đạt tỷ lệ an toàn 100%);
    • Tiêm vắc-xin Dịch tả và Tụ - Đóng dấu cho 293 con lợn (đạt 100% an toàn);
    • Tiêm vắc-xin phòng bệnh Newcastle cho 435 con gà (đạt 100% an toàn);
    • Điều trị lâm sàng bệnh bạch lỵ gà (Salmonella pullorum) với 7 ca mắc, khỏi 6 con (tỷ lệ khỏi 85,71%); điều trị bệnh cầu trùng gà trên 121 con, khỏi 97 con (tỷ lệ khỏi 80,16%); thực hiện thủ thuật thiến 5 con lợn đực và điều trị thành công 1 ca bò chướng hơi dạ cỏ.

Phần 2: Chuyên đề nghiên cứu khoa học

Phần chuyên đề đi sâu phân tích tình hình dịch tễ, triệu chứng, bệnh tích và thử nghiệm điều trị bệnh cầu trùng gà tại địa phương:

  • Tình hình nhiễm bệnh chung theo địa bàn: Khảo sát phân và triệu chứng lâm sàng trên 770 con gà tại 3 xã (Lâu Thượng, Dân Tiến, Liên Minh) xác định 121 con mắc bệnh, chiếm tỷ lệ chung 15,71%. Tỷ lệ này phản ánh phương thức chăn nuôi bán chăn thả với mật độ nuôi thưa, có sân chơi khô ráo giúp giảm thiểu nguy cơ tích tụ noãn nang so với nuôi nhốt công nghiệp mật độ cao.
  • Quy luật nhiễm bệnh theo độ tuổi: Nghiên cứu phân tích sự biến động tỷ lệ nhiễm theo các nhóm tuổi: 1 - 14 ngày tuổi, 15 - 30 ngày tuổi và trên 30 ngày tuổi. Kết quả cho thấy gà ở nhóm 1 - 14 ngày tuổi có tỷ lệ nhiễm cao nhất (16,70%), nhóm 15 - 30 ngày tuổi nhiễm 15,88% và giảm xuống mức 12,58% ở gà trên 30 ngày tuổi.
  • Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đại thể: Khóa luận ghi nhận bệnh biểu hiện ở hai thể chính:
    • Thể cấp tính: Phổ biến ở gà con từ 18 đến 40 ngày tuổi với biểu hiện giảm ăn, ủ rũ, xõa cánh, uống nhiều nước, phân sáp có màu cà phê hoặc lẫn máu tươi, tỷ lệ chết có thể lên tới 70 - 80% nếu không can thiệp kịp thời.
    • Thể mãn tính và mang trùng: Phổ biến ở gà trưởng thành (trên 60 ngày tuổi), phân lỏng lẫn chất nhầy, gà chậm lớn, tiêu tốn thức ăn nhưng ít gây chết đột ngột. Bệnh tích mổ khám đại thể điển hình là hai manh tràng sưng to, vách manh tràng căng phồng chứa đầy chất dịch lẫn máu đỏ sẫm hoặc fibrin đóng cục hoại tử, niêm mạc ruột non xuất hiện nhiều điểm xuất huyết lấm tấm.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

Dữ liệu khảo sát dịch tễ học và kết quả điều trị bệnh cầu trùng gà tại huyện Võ Nhai được tổng hợp qua các bảng số liệu sau:

Địa bàn khảo sát Số lượng gà kiểm tra (con) Số lượng gà mắc bệnh (con) Tỷ lệ mắc bệnh (%)
Xã Lâu Thượng 312 45 14,42
Xã Dân Tiến 260 30 11,53
Xã Liên Minh 198 46 23,23
Tính chung 770 121 15,71

Sự phân hóa tỷ lệ nhiễm bệnh giữa các xã cho thấy xã Liên Minh có tỷ lệ mắc cao nhất (23,23%), cao hơn rõ rệt so với xã Lâu Thượng (14,42%) và xã Dân Tiến (11,53%). Nguyên nhân gắn liền với điều kiện vệ sinh chuồng trại, độ ẩm nền chuồng và việc áp dụng các biện pháp tiêu độc khử trùng định kỳ tại từng địa bàn.

Biến động tỷ lệ nhiễm cầu trùng gà theo từng nhóm tuổi tại 3 xã được trình bày trong bảng dưới đây:

Địa bàn (Xã) 1 - 14 ngày tuổi (Mắc/Kiểm tra) Tỷ lệ (%) 15 - 30 ngày tuổi (Mắc/Kiểm tra) Tỷ lệ (%) $\ge$ 30 ngày tuổi (Mắc/Kiểm tra) Tỷ lệ (%)
Lâu Thượng 23 / 167 13,77 13 / 84 15,47 9 / 61 14,75
Dân Tiến 18 / 134 13,43 8 / 80 10,00 4 / 46 8,69
Liên Minh 28 / 112 25,00 13 / 50 26,00 5 / 36 13,88
Tính chung 69 / 413 16,70 34 / 214 15,88 18 / 143 12,58

Số liệu khẳng định tỷ lệ cảm nhiễm cao nhất tập trung ở lứa tuổi sơ sinh và gà giò (1 - 14 ngày tuổi đạt 16,70% và 15 - 30 ngày tuổi đạt 15,88%), sau đó giảm dần khi tuổi gà tăng lên ($\ge 30$ ngày tuổi còn 12,58%).

Giải pháp và biện pháp kỹ thuật đề xuất

Dựa trên kết quả nghiên cứu và thực nghiệm, tác giả đề xuất hệ thống biện pháp phòng và trị bệnh cầu trùng cho đàn gà nuôi tại địa phương:

  • Biện pháp vệ sinh thú y: Vệ sinh cơ giới kết hợp phun tiêu độc khử trùng chuồng nuôi trước khi vào đàn bằng dung dịch Formol 1,5% hoặc NaOH 2%, sau 2 ngày quét vôi đặc. Dụng cụ ăn uống phải được ngâm hóa chất Crezin 5% từ 2 đến 5 giờ và phơi khô. Đệm lót chuồng phải được phơi khô, phun khử trùng và sau mỗi lứa gà phải thu gom ủ nhiệt sinh học để tiêu diệt noãn nang.
  • Biện pháp dùng thuốc phòng định kỳ:
    • Giai đoạn 7 - 20 ngày tuổi: Sử dụng các loại thuốc diệt khuẩn và ức chế cầu trùng giai đoạn phân lập như Sulfaquinoxalin, Sulfadimidin hòa nước uống.
    • Giai đoạn 21 - 45 ngày tuổi: Luân phiên sử dụng các hoạt chất Sulfamid mạnh hoặc kháng sinh đặc hiệu như Sulfaclozin, Amprolium, Monensin.
    • Giai đoạn sau 45 ngày tuổi: Định kỳ mỗi tháng dùng thuốc phòng một đợt 3 ngày liên tục dưới dạng premix trộn thức ăn.
  • Biện pháp điều trị: Khi phát hiện ổ dịch, cần cách ly gà bệnh, sử dụng các thuốc điều trị có hoạt chất khác với thuốc đã dùng phòng bệnh trước đó để tránh kháng thuốc (như sử dụng Vinacoc.ABC liều 2g/lít nước hoặc RTD-Coccistop liều 1,5 - 2g/lít nước uống liên tục 3 - 5 ngày), kết hợp bổ sung Vitamin K (chống xuất huyết đường ruột), Vitamin B-complex và chất điện giải nhằm nâng cao sức đề kháng.

Đóng góp của đề tài

Công trình đóng góp số liệu thực nghiệm cụ thể về tỷ lệ lưu hành và quy luật phát sinh bệnh cầu trùng gà tại các xã vùng cao huyện Võ Nhai năm 2014, làm cơ sở khoa học để Trạm Thú y huyện và cán bộ thú y cơ sở xây dựng phác đồ can thiệp dịch tễ phù hợp với điều kiện chăn nuôi nông hộ miền núi.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số hạn chế nhất định xuất phát từ điều kiện thực địa:

  • Phạm vi không gian mới tập trung khảo sát tại 3 xã (Lâu Thượng, Dân Tiến, Liên Minh) trong tổng số 15 đơn vị hành chính cấp xã của huyện Võ Nhai.
  • Thời gian nghiên cứu giới hạn trong 6 tháng (từ tháng 6 đến tháng 11 năm 2014), chưa bao quát toàn diện quy luật dịch tễ biến động qua cả 4 mùa trong năm.
  • Nghiên cứu chưa đi sâu giám định tỷ lệ nhiễm của từng loài Eimeria cụ thể bằng phương pháp đo kích thước chỉ số hình thái vi thể hoặc kỹ thuật sinh học phân tử (PCR), mà chủ yếu phân loại tác nhân dựa trên tổn thương bệnh tích đại thể và dữ liệu tổng quan.

Hướng nghiên cứu tiếp theo bao gồm việc mở rộng quy mô điều tra trên toàn bộ các xã thuộc huyện Võ Nhai qua chu kỳ 12 tháng, kết hợp định danh chính xác cơ cấu loài Eimeria chiếm ưu thế và thử nghiệm hiệu lực của các hoạt chất kháng cầu trùng thế hệ mới (như Toltrazuril) trên các giống gà bản địa và gà công nghiệp.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tư liệu chuyên môn hữu ích cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Thú y, Chăn nuôi - Thú y tham khảo phương pháp lấy mẫu phân ngẫu nhiên, quy trình thực hiện kỹ thuật phù nổi Fulleborn tìm noãn nang đơn bào và phương pháp xử lý số liệu dịch tễ thú y cơ bản.
  • Cán bộ thú y cơ sở, cán bộ khuyến nông tại các huyện miền núi làm tài liệu thực tế để hướng dẫn người chăn nuôi nhận biết sớm triệu chứng lâm sàng thể cấp tính/mãn tính, chẩn đoán phân biệt cầu trùng với bệnh Gumboro, Tụ huyết trùng, Bạch lỵ và thiết lập lịch phòng thuốc định kỳ theo nhóm tuổi.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ mắc bệnh cầu trùng gà chung tại 3 xã huyện Võ Nhai được xác định là bao nhiêu và xã nào có tỷ lệ cao nhất?
Qua kiểm tra 770 con gà tại 3 xã, tỷ lệ mắc bệnh cầu trùng trung bình là 15,71% (121 con mắc). Trong đó, xã Liên Minh có tỷ lệ cao nhất với 23,23% (46/198 con), tiếp theo là xã Lâu Thượng đạt 14,42% (45/312 con) và thấp nhất là xã Dân Tiến đạt 11,53% (30/260 con).

2. Gà ở độ tuổi nào mẫn cảm và có tỷ lệ nhiễm bệnh cầu trùng cao nhất?
Gà ở độ tuổi từ 1 đến 14 ngày tuổi có tỷ lệ nhiễm cao nhất (16,70% - 69/413 con), tiếp đến là nhóm từ 15 đến 30 ngày tuổi (15,88% - 34/214 con), và thấp nhất ở nhóm gà từ 30 ngày tuổi trở lên (12,58% - 18/143 con).

3. Khóa luận sử dụng phương pháp xét nghiệm nào để tìm noãn nang cầu trùng trong phân và nguyên lý ra sao?
Tác giả sử dụng phương pháp phù nổi Fulleborn. Nguyên lý dựa trên sự chênh lệch tỷ trọng: Dung dịch nước muối bão hòa có tỷ trọng lớn ($D = 1{,}18 - 1{,}20$) hơn tỷ trọng của noãn nang cầu trùng ($D = 1{,}01 - 1{,}02$), làm cho noãn nang nổi lên bề mặt dung dịch và dính vào phiến kính đậy trên miệng lọ sau 30 phút, sau đó soi dưới kính hiển vi quang học độ phóng đại 100 lần.

4. Kết quả điều trị bệnh cầu trùng thực tế tại cơ sở đạt tỷ lệ khỏi là bao nhiêu và tác giả đã sử dụng những thuốc nào?
Trong công tác phục vụ sản xuất tại cơ sở, tác giả đã điều trị cho 121 con gà mắc bệnh cầu trùng, có 97 con khỏi bệnh, đạt tỷ lệ khỏi 80,16%. Hai chế phẩm thuốc chính được sử dụng thử nghiệm điều trị là Vinacoc.ABC (chứa Sulphachlopyrazine sodium salt) và RTD-Coccistop (chứa Sulfadimidine, Sulfadimethoxin, Diaveridin, Trimethoprim).

5. Điểm khác biệt về bệnh tích đại thể giữa bệnh cầu trùng manh tràng do E. tenella và bệnh Gumboro là gì?
Bệnh cầu trùng do E. tenella có bệnh tích đặc trưng là hai manh tràng sưng to gấp nhiều lần bình thường, vách manh tràng căng phồng, bên trong chứa đầy dịch xuất huyết màu đỏ sẫm hoặc khối fibrin lẫn máu hoại tử. Trong khi đó, bệnh Gumboro chủ yếu gây sưng to, xuất huyết tại túi Fabricius (túi tròn) mà không gây biến đổi đặc trưng làm sưng to và ứ máu ở manh tràng.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Luân Thị Giang đã hoàn thành việc điều tra thực trạng dịch tễ bệnh cầu trùng gà tại 3 xã thuộc huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên năm 2014 với tỷ lệ nhiễm chung 15,71%, đồng thời chỉ ra quy luật gà con giai đoạn dưới 30 ngày tuổi có nguy cơ mẫn cảm cao nhất. Nghiên cứu cung cấp dữ liệu thực nghiệm về kỹ thuật chẩn đoán phù nổi Fulleborn và đánh giá hiệu lực của các phác đồ thuốc Sulfamid phối hợp trong điều trị lâm sàng đạt tỷ lệ khỏi trên 80%. Các đề xuất về tiêu độc khử trùng chuồng trại bằng hóa chất kết hợp quy trình luân chuyển thuốc phòng trị theo lứa tuổi có giá trị thực tiễn cao đối với ngành chăn nuôi gia cầm quy mô nông hộ tại địa phương.