Đặt vấn đề Trà không những là thức uống dé thưởng thức như một thú vui tao nhã mà còn là dược liệu quý thiên nhiên ban tặng cho con người. Ở Việt Nam, trà được xem là thức uống không thé thiếu khi tiếp khách hoặc dùng sau những bữa ăn. Trong trà chứa các chất chống oxi hóa nên trà giúp làm chậm đi sự già cỗi của tế bào. Nhiều nghiên cứu cho thấy, trà có tác dụng trong việc ngăn ngừa bệnh ung thư.
Các nhà khoa học cho biết, hoạt chất axit tanic trong trà còn có tác dụng với người bị nhiễm độc kim loại nặng, kế cả thủy ngân. Dựa vào tiêu chí muốn tìm hiểu và thử nghiệm trà dược liệu mà có tác dụng tốt đối với sức khỏe con người. Một trong dược liệu cần quan tâm nghiên cứu được tận dụng từ nguồn nguyên liệu sẵn có là cây voi. Cây Vối là một loài cây lâu năm thường xanh được nhiều người biết đến.
Cây mọc hoang và được trồng ở khắp nơi. Trong lá vôi có tanin, một số chất khoáng, vitamin và khoảng 4% tinh dau với mùi thơm dé chịu và có một chat kháng sinh diệt được nhiều loại vi khuân gây bệnh. Nước sắc đậm đặc của lá cây vối dùng như thuốc sát trùng, dé rửa mụn nhọt, ghẻ. Lá, vỏ thân, hoa còn dùng làm thuốc chữa bệnh đầy bụng, khó tiêu, viêm đại tràng mãn tính, ly trực trùng.
Ở Việt Nam, lá vối sử dụng thường được sử dung làm đồ uống dưới dang lá tươi hoặc lá khô, việc sử dụng sản phẩm dưới dạng tươi hoặc lá khô thường khó bảo quản chưa cung cấp được rộng rãi trên thị trường do vậy việc sử dụng lá vối còn nhiều bất tiện và giá tri về mặt kinh tế của lá vối không cao. Các sản phẩm trà túi lọc, hiện nay được nhiều người tiêu dùng lựa chọn vì có nhiều ưu điểm như tiện lợi, dễ sử dụng, vệ sinh, dé bảo quản, nhỏ gon, vận chuyên dé dang và có thé sử dụng hết tinh chất của trà. Nên lá vối được bào chế dưới dang trà túi lọc có ý nghĩa quan trọng nhằm đa dang hóa sản phẩm từ lá vối, giúp giá trị kinh tế cua lá vôi cao hơn và đặc biệt đáp ứng nhu cầu của đại bộ phận con người tiêu dùng. Xuất phát từ những van đề trên, em tiễn hành thực hiện dé tài “ Nghiên cứu bào chế trà túi lọc từ lá vôi (Cleistocalyx opereulatus)”.
Mục tiêu đề tài — Khảo xác tỉ lệ phối vị trà lá vối dưới dạng trà túi lọc. Đánh giá hàm lượng Flavonoid, Terpenoid và hoạt tính chống oxy hóa. Nội dung thực hiện — Sang lọc, kiểm nghiệm nguyên liệu. — Bao chế trà túi lọc và đánh giá hàm lượng flavonoid, terpenoid và hoạt tính chống oxy hóa.
— Kiêm nghiệm vi sinh trà túi lọc lá vôi. TONG QUAN TÀI LIEU 2. Giới thiệu cây voi 2. Nguồn gốc và phân bố của cây voi Cây vối có tên khoa học Cleistocalyx operculatus có nguồn gốc từ A Châu nhiệt đới, Trung Quốc.
Hiện nay, cây vôi có mặt ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới như An Độ, Thai Lan, Nepal, Indonesia, Malaysia Lào, Campuchia, Myanmar,. Tại Việt Nam, cây mọc hoang và được trồng ven bờ ao, bờ suối, các vùng đất thấp nhiều mau mỡ ở các tính Đồng Bằng va Trung Du Bắc Bộ, Lào Cai,. dé lấy lá, nụ hoa làm trà uống. Giới :Plantae Bộ : Myrtales Họ : Myrtaceae Chi : syzygium Loài : S.
Đặc điểm thực vật của cây vối Trong dân gian phân biệt có hai loại, một loại lá nhỏ hon ban tay, màu vàng xanh, thường gọi là “vôi kê” hay “vôi nếp”. Loại thứ hai lá to hơn bàn tay, hình thoi, màu xanh thẫm gọi là “với tẻ”. Có nơi phân biệt vối trâu voi quế. Vối trâu lá mỏng, xanh đậm và to bản còn vối qué lá dày, nhỏ.
Hệ rễ: Cây vôi có hệ rễ cọc, phân nhánh nhiều. Rễ sinh trưởng phát triển mạnh có thé ăn sâu từ 5 — 6 m. Phát triển mạnh trong môi trường đất am, giàu dinh đưỡng. Thân: Là cây thân gỗ nhỡ, có chiều cao trung bình từ 5 — 6 m, có thé cao tới 15m.
Đường kính thân có thể lên đến 50 cm. Thân cây nhẫn, phủ một lớp vỏ mỏng màu nâu hoặc nâu xám, nứt dọc và phân cành (Đỗ Tất Lợi, 2008; Võ Văn Chi và ctv,1971). Canh non det, sau thành hình trụ, có lớp vảy. Lá: Đơn, mọc đối, hình elip dén hinh trứng, hình trái xoan ngược hay bầu dục, đầu lá nhọn, góc lá thuôn, hai mặt có những đốm nâu, phiến dày, cứng.
Mép lá không có răng cưa, có gân thô, không có lông. Lá dài 8 - 10 cm và rộng 4,5 - 7 em. Cuống lá ngắn tầm 1 - 1,5 cm, có cánh ở dưới đỉnh. Chéi va lá non sẽ ra nhiều trong mùa xuân hè.
Khi vò nát, lá tỏa ra mùi giống như mùi xoài (Đỗ Tất Lợi, 2008; Võ Văn Chi và ctv,1971). Hoa: Không cuống, phát hoa ở nách lá rụng. Màu trắng lục, mọc thành cụm hoa hình tháp. Mỗi chùm hoa trung bình từ 30 - 40 bông.
Hoa có 4 cánh, có rất nhiều nhị. Quả: Loại quả mong thịt, hình cầu hay hình trứng, đường kính từ 7 — 14 mm, nhám, nhớt, khi chín có màu tím đến đen (Võ Văn Chỉ và ctv,1971). Thành phần hóa học Lá chứa ít tanin, những vết alcaloid (thuộc nhóm indolic) gần gũi với cafein và một lượng tinh dầu (4%) bay hơi, thơm. Ngoài ra trong lá vối còn chứa một số hợp chất có hoạt tính sinh học là làm giảm đường huyết như: ÿ- sistosterol, j- sistosterolglucopyranoside, 2,4- dihydroxy- 6- methoxy- 3,5- dimethylchaleno, flavonoid.(Ha Thị Bích Ngoc, 2019) Bên cạnh đó thì các bộ phận khác nhau của cây còn chứa các sterol, chất béo, tanin catechic và gallic.
Lá và nụ chứa acid triterpenic.Ngoài ra, theo kết qua của những công trình nghiên cứu trong những năm gần đây đã xác định thành phần mang hoạt tính sinh học của nụ vối là một hợp chất polyphenol tên là 2',4'- dihydroxy- 6'- methoxy - 3',5'dimethylchalcone (gọi tắt là DMC). Trong những năm gần đây, nhờ áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học 9 hiện đại, người ta đã tìm thấy tác dụng sinh học của nước chiết lá vối chủ yêu là do các polyphenol. Polyphenol có chứa vòng phenol trong cấu trúc phân tử. Polyphenol chính trong trà xanh là các flavonoid (catechin, epicatechin, eplcatechin gallat, epigallocatechin gallat và proanthocyanidin).
Epigallocatechin gallat là thành phan hoạt động mạnh nhất. Flavonoid trong trà thuộc vào nhóm quercetin và catechin, trong đó quan trọng là các dẫn xuất của catechin. Catechin có tác dụng hạn chế tích mỡ, làm tăng chlolesterol tốt vì thế làm giảm khả năng mắc phải các bệnh về tim mạch. Các dẫn xuất catechin của trà có công thức như sau: (-)-Epicatechin (EC) (-)-Epigallocatechin (EGC) OH get eee, (-)-Epicatechin-3-_.Cấu trúc hóa học của Catechin.
Polyphenol có các tác dụng sinh học như ức chế men tiêu hóa đường (như alpha- glucose, alpha-amylase), chống oxy hóa. Các polyphenol có tác dụng khử các gốc tự do, giống như tác dụng của các chất antioxidant. Các gốc tự do được sinh ra và tích luỹ trong quá trình sống, chính là nguyên nhân dẫn đến bệnh tật và làm tăng tốc độ quá trình lão hoá cơ thé con người (McDougall GJ và ctv, 2005). Ngoài ra, chúng còn có tác dụng trong việc ngăn ngừa bệnh ung thư, phòng ngừa và chữa trị các bệnh về tim mạch, bệnh cao huyết áp, bệnh đường ruột, bệnh về răng và có tác dụng làm chậm quá trình lão hoá, tăng tuổi thọ, tăng sức đề kháng, tăng tính đàn hồi và tính bền thành mạch.
Vai trò cây vối Cây vối sử dung dé lay gỗ dùng trong xây dựng, làm công cụ. Vỏ cây vối có chất 10 dùng dé nhuộm đen. Nhưng có thể nói bộ phận được sử dụng phô biến nhất của cây vối là nụ và lá vối. Chúng được thu hái dé nau làm nước uống rất phổ biến ở vùng nông thôn Việt Nam.
Lá vôi tươi dem đun sôi và uống hàng ngày giúp hỗ trợ tiêu tích và làm tan khoáng chất uric đề hỗ trợ điều trị bệnh gút hiệu quả, lá vôi tươi có tác dụng giúp kháng khuẩn vô cùng hiệu quả, góp phần ngăn chặn và tiêu diệt hiệu quả các mầm mống vi khuẩn gây hại. Lá vối khô có chứa chất tanin giúp bảo vệ các niêm mạc ruột rất tốt. Bên cạnh đó, chúng còn giúp tang cảm giác ngon miệng, kích thích tiêu hóa cũng như đảm bảo thành phần dinh dưỡng được hấp thu một cách hiệu quả nhất. Ngoài lá, phần vỏ cây lá vối cũng có tác dung rat lớn dé chữa bệnh bỏng khá tốt.
Chúng giúp tăng tiết dịch, giảm sưng phông và làm dịu cơn đau cũng như hạn chế sự phát triển của vi trùng. Ngoài ra, theo kinh nghiệm dân gian thì người ta thường phôi hợp lá vi với lá hoắc hương làm nước uống lợi tiêu hóa. Nước sắc đậm đặc của lá cây vôi dùng như thuốc sát trùng, để rửa mụn nhọt, ghẻ. Lá, vỏ thân, hoa còn dùng làm thuốc chữa bệnh đầy bụng, khó tiêu, viêm đại tràng mãn tính, ly trực trùng (Võ Văn Chi và ctv, 1971; Lê Tran Đức, 1997; Đỗ Tat Lợi, 2008).
Lá và nu voi có chứa chat flavonoid. Các flavonoid còn có kha tao phức với các ion kim loại nên có tác dụng như những chất xúc tác ngăn cản các phản ứng oxy hóa. Do đó, các chất flavonoid có tác dụng bảo vệ cơ thể, ngăn ngừa xo vữa động mạch, tai biến mạch, lão hóa, thoái hóa gan, ton thương do bức xa. Tac dụng sinh học đã nghiên cứu Năm 1986, Nguyễn Đức Minh, phòng đông y thực nghiệm Viện nghiên cứu đông y đã tiền hành nghiên cứu thăm dò tính chat kháng sinh của lá và nụ cây vi đối với một số vi khuẩn Gram(+) và Gram(-) đã đi tới kết luận rang, ở tất cả các giai đoạn phát triển của cây, lá và nụ voi đều có tác dụng kháng khuẩn.
Vào mùa đông, tính kháng sinh cao nhất ở lá và hoàn toàn không độc đối với cơ thé. Năm 2003, Đào Thị Thanh Hiền, trường ĐH Dược Hà Nội và những người khác đã tiền hành thử nghiệm nghiên cứu một số tác dụng của cây voi. Kết quả cho thấy : Tính kháng khuẩn của lá vối, đặc biệt là lá vối tươi có tác dung rất tốt trên vi khuẩn E.coli, là loại vi khuân thường gây ra bệnh đường ruột và hai vi khuân Gr(+) và Gr(-) thường gặp ở bệnh viêm da. Điều này làm sáng tỏ việc uống nước sắc lá vối để chữa 11 bệnh tiêu chảy và tắm nước sắc lá vối để chữa bệnh viêm da.