MỞ ĐẦU Việc phát minh ra máy ghi hình nhấp nháy gamma (gamma scintillation camera) bởi kỹ sư người Mỹ, Hal Anger, vào những năm 1950 đã mang lại nhiều thuận lợi cho kỹ thuật ghi hình y học hạt nhân và dẫn đến các đồng vị phóng xạ sử dụng trong y học được tăng lên nhanh chóng. Các đồng vị phóng xạ sử dụng trong y học có thể được phân chia thành hai loại chính: dùng trong ghi hình và trong xạ trị. Các đồng vị phóng xạ này có thể được sản xuất thông qua các phản ứng hạt nhân trong các lò phản ứng gây ra bởi chùm nơtron hoặc từ quá trình bắn phá bởi chùm hạt mang điện được gia tốc trên máy gia tốc. Với ưu thế có thể sản xuất các đồng vị phóng xạ có hoạt độ riêng lớn và tạo ra lượng chất thải phóng xạ ít, cùng với sự phát triển của công nghệ máy gia tốc, đặc biệt là công nghệ máy gia tốc i-ôn âm, và sự mở rộng ứng dụng của kỹ thuật xạ hình PET và SPECT, ngày nay máy gia tốc cyclotron đã trở thành một trong các công nghệ chủ đạo để sản xuất các đồng vị phóng xạ dùng trong các ứng dụng thực tế, đặc biệt là trong y học.
Theo điều tra năm 2007 của Cơ quan Năng lượng Nguyên Tử Quốc tế, có khoảng 350 máy gia tốc cyclotron được sử dụng cho mục đích sản xuất các đồng vị phóng xạ, và trong 261 trung tâm mà IAEA đến khảo sát thì có đến 75% các máy gia tốc cyclotron được sử dụng để sản xuất FDG tại chỗ và để cung cấp cho các cơ sở khác. Hệ thống máy gia tốc cyclotron tại trung tâm máy gia tốc của Bệnh viện TƯQĐ 108 được cung cấp bởi hãng IBA, Bỉ có thể gia tốc chùm tia proton đến năng lượng lớn nhất 30 MeV với mục đích sản xuất các đồng vị phóng xạ dùng cho cả PET và SPECT, cũng như dùng trong nghiên cứu khoa học. Đồng vị phóng xạ 18F có thể được sản xuất với xuất lượng lớn bằng cách bắn phá chùm tia proton được gia tốc vào bia nước làm giàu 18O thông qua phản ứng hạt nhân 18 O(p,n)18F. Sau khi được tạo ra, 18F được chuyển đến phòng thí nghiệm sản xuất dược chất phóng xạ để tổng hợp thành hợp chất FDG.
Đồng vị phóng xạ 18F được sinh ra bằng cách bắn phá chùm tia proton năng lượng cao vào bia nước làm giàu 18O thông qua phản ứng hạt nhân 18O(p,n)18F. Sau khi được tạo ra, 18F được chuyển đến đến hotcell tổng hợp thông qua đường ống truyền để tổng hợp dược chất FDG. Hiệu suất sản xuất dược chất phóng xạ FDG được quyết định 1 bởi hai yếu tố chính: xuất lượng đồng vị 18F sinh ra trong quá trình chiếu bia và hiệu suất tổng hợp FDG của bộ tổng hợp. Xuất lượng của đồng vị 18F phụ thuộc vào các thông số vật lý của chùm tia proton tới (như năng lượng, cường độ, kích thước,.
Luận văn đã áp dụng các tính toán phản ứng hạt nhân để tính toán xuất lượng đồng vị 18F sinh ra trong quá trình bắn bia, xác định thực nghiệm hiệu suất truyền đồng vị 18F thông qua việc đo hoạt độ của 18F truyền tới hotcell sau khi chiếu bia, từ các kết quả thu được cùng với hoạt độ sản phẩm FDG có thể tính được hiệu suất tổng hợp của bộ tổng hợp. Ngoài xuất lượng đồng vị 18F sinh ra và hiệu suất tổng hợp của bộ tổng hợp, luận văn cũng nghiên cứu tối ưu hóa các thông số vận hành (thông số kỹ thuật được thiết lập bởi người vận hành máy gia tốc cho máy gia tốc và các thành phần cấu thành nên hệ thống tách-dẫn chùm tia) để tạo ra chùm tia gia tốc có cường độ ổn định, kích thước hay độ hội tụ phù hợp và có hiệu suất truyền cao để đảm bảo quá trình vận hành máy gia tốc an toàn và tiết kiệm. Tuy nhiên, sự sai lệch, thăng giáng các tham số vận hành sau khoảng thời gian hơn 10 năm máy gia tốc Cyclotron đưa vào sử dụng đã gây ảnh hưởng lớn và khó khăn trong việc hiệu chỉnh tinh vi các thông số trên hệ điều khiển máy gia tốc và hệ thống dẫn truyền chùm tia. Sự sai lệch và thăng giáng các tham số vận hành này ảnh hưởng đến quá trình bắn phá bia để tạo xuất lượng đồng vị phóng xạ 18F cũng như quá trình tổng hợp tạo sản phẩm 18F-FDG cuối cùng.
Do vậy, mỗi cơ sở sản xuất đồng vị phóng xạ trên máy gia tốc đều phải tự xây dựng bộ các thông số này và chọn lựa điều kiện chiếu tối ưu của riêng hệ máy gia tốc đang vận hành. Điều kiện chiếu tối ưu sẽ giúp cho việc tính toán và đánh giá được hiệu suất tạo xuất lượng đồng vị phóng xạ 18F và từ đó có thể ước lượng và tính toán giá trị hiệu suất tổng hợp thực tế. Đây chính là lý do cần thiết tiến hành đề tài và mục tiêu đặt ra của đề tài là “Đánh giá hiệu suất sản xuất 18F-FDG trên máy gia tốc Cyclone®30”. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Máy gia tốc Cyclone® 30 tại Trung tâm Máy gia tốc Máy gia tốc là thiết bị để tăng năng lượng cho các hạt cần gia tốc. Một trong những phương tiện để nghiên cứu cấu trúc vật chất ở trạng thái vi mô là sử dụng các hạt bắn phá vào vật chất bao gồm các hạt cơ bản cũng như các ion của các nguyên tử. Ernest Lawrence là người phát minh ra máy gia tốc vòng (cyclotron) đầu tiên vào năm 1929. Nguyên lý hoạt động của nó là các hạt mang điện tích trong buồng máy chuyển động theo các đường vòng.
Có 2 loại máy gia tốc vòng. Kiểu cyclotron : Quỹ đạo của các hạt điện tích là đường xoáy ốc phẳng Kiểu Synchrotron : Quỹ đạo của các hạt theo đường tròn phẳng Các máy cyclotron được sử dụng nhiều trong các thí nghiệm vật lý hạt nhân và nhiều ứng dụng trong y học, sinh học, công nghiệp, nông nghiệp và các ngành kỹ thuật khác. Hiện nay máy gia tốc Cyclotron đóng vai trò chính trong sản xuất đồng vị phóng xạ cho tổng hợp các dược chất phóng xạ cho PET và PET/CT. Trung tâm máy gia tốc - Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 được trang bị một máy gia tốc cyclotron với mục đích để sản xuất các dược chất phóng xạ sử dụng trong y tế và để kết hợp nghiên cứu khoa học.
Máy gia tốc cyclotron này do hãng IBA của Bỉ cung cấp và lắp đặt. Đây là máy gia tốc vòng có từ trường, tấn số cố định, có thể gia tốc ion H- tới năng lượng cao nhất 30 MeV, cường độ dòng rất lớn có thể lên đến 400 A, có thể tách chùm tia từ buồng gia tốc đồng thời trên 2 kênh ra và số kênh ra có thể lên đến 10. Năng lượng chùm tia chiết ra khỏi buồng gia tốc có thể thay đổi từ 15 đến 30 MeV bằng cách thay đổi vị trí đặt lá tách điện tử (stripper foil) tại đường kính tương ứng với năng lượng yêu cầu. Hình ảnh mô tả về máy gia tốc này được đưa ra trên Hình 1.
Với công suất sản xuất 18F-FDG lên đến 3.5-4 Ci/ngày, trung tâm máy gia tốc, Bệnh viện TƯQĐ 108 có khả năng để cung cấp đủ dược chất phóng xạ 18F- FDG cho các máy PET ở Hà Nội và các vùng lân cận. Máy gia tốc cyclotron 30 MeV tại Trung tâm MGT gia tốc, Bệnh viện TƯQĐ 108. Cấu tạo của máy gia tốc Cyclotron tại Trung tâm máy gia tốc bao gồm 6 bộ phân chính, đó là hệ thống nam châm từ trường, hệ thống điện trường gia tốc, nguồn i-ôn, hệ thống bơm i-ôn đồng trục, bộ phận tách chiết chùm tia, và hệ thống dẫn truyền chùm tia. Chùm tia i-ôn H- tạo ra bởi nguồn i-ôn được phun xuống buồng gia tốc và uốn lệch hướng chùm tia tại tâm buồng thông qua hệ thống bơm i-ôn đồng trục.
Buồng gia tốc cấu tạo gồm hệ nam châm chính theo kiểu cấu trúc lồi-lõm như trên Hình 1.1-2 tạo ra các khối nam châm hình quạt (sector) và các vùng lõm để lắp đặt các khoang tạo xung điện trường dao động (Dee). Các khoang này kết hợp với điện cực đối diện tạo ra các khe gia tốc, mà mỗi lần đi qua các i-ôn sẽ được gia tốc. Điện trường gia tốc được cung cấp vào Dee dưới dạng tín hiệu sóng hình sin được khuếch đại từ bộ dao động. Để thực hiện được chức năng gia tốc, tần số và pha dao động cần được chọn sao có sự đồng bộ giữa cho điện áp của khe gia tốc gia tốc thời điểm với các i-ôn đi qua khe này.
Giản đồ mặt cắt ngang của mặt phẳng trung tuyến Cyclotron. Trong đó, (1) Sector; (2) Các Dee; (3) Điện cực; (4) Hai khoang trống dành cho bơm chân không, hai khoang chứa Dee; (5) Khe gia tốc. Mũi tên xanh chỉ chiều chuyển động của chùm i-ôn. Dưới tác động của từ trường sinh ra bởi các khối nam châm và của điện trường trên khe gia tốc, các i-ôn H- sẽ chuyển động theo hình xoắn ốc trong buồng gia tốc, năng lượng của các i-ôn tỷ lệ thuận với khoảng cách từ quỹ đạo của i-ôn tới tâm buồng gia tốc.
Chùm i-ôn được gia tốc tới năng lượng mong muốn sẽ được tách chiết ra bằng cách sử dụng lá các-bon mỏng. Các ion H- khi xuyên qua lá này sẽ bị mất các điện tử để trở thành i-ôn H+ (hay proton). H- H+ + 2e- Dưới tác dụng của từ trường trong buồng gia tốc, quỹ đạo của chùm proton mang điện dương bị lệch khỏi hướng chuyển động ban đầu trước khi đi qua lá tách điện tử và được lái ra ngoài bởi từ trường của khối nam châm lái hướng của hệ thống tách chiết chùm tia. Mô tả quá trình tách chiết chùm i-ôn gia tốc được đưa ra trên Hình 1.
Giản đồ miêu tả dòng proton sinh sau khi chùm i-ôn H- đi qua lá các-bon và được lái ra ngoài bởi từ trường trên bộ nam châm lái hướng. Mỗi cổng tách chiết có thể có đến 5 cổng đầu ra lắp trên buồng chân không của nam châm lái hướng. Sau khi ra khỏi cyclotron, chùm proton này sẽ được truyền qua đường dẫn chùm tia (beam line) đến bắn vào bia nước làm giàu 18O để sinh ra đồng vị phóng xạ F18 thông qua phản ứng hạt nhân 18O(p,n)18F.1-4 mô tả cấu hình đường dẫn truyền chùm tia điển hình cho kênh bia lỏng. Đường dẫn truyền chùm tia bao gồm các bộ phận chính như sau: Hình 1.
Sơ đồ miêu tả đường dẫn truyền chùm tia (beam line).