Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Rutin ($3',4',5,7$-tetrahydroxyflavone-3-rutinoside, công thức phân tử $\text{C}{27}\text{H}{30}\text{O}{16}$, phân tử lượng $610{,}6\text{ g/mol}$) là một flavonol glycoside tự nhiên hiện diện phổ biến trong các dược liệu như hoa hòe (Sophora japonica L.), Bắc Sơn tra (Crataegus pinnatifida Bunge) và Dâu tằm (Morus alba L.). Hợp chất này sở hữu nhiều hoạt tính sinh học giá trị bao gồm chống oxy hóa, kháng khuẩn, kháng nấm, chống viêm khớp, làm bền thành mạch (hoạt tính vitamin P), hỗ trợ điều trị đái tháo đường và hạ huyết áp thông qua cơ chế ức chế enzym chuyển đổi angiotensin (ACE với $\text{IC}{50} = 64\text{ }\mu\text{M}$) và enzym acetylcholinesterase.

Mặc dù có tiềm năng điều trị lớn, rutin được xếp vào Nhóm IV trong Bảng hệ thống phân loại sinh dược học (BCS) do đồng thời có độ tan kém trong môi trường nước ($125\text{ mg/L}$) và tính thấm qua màng sinh học hạn chế ($\text{log}P \approx 0$). Khi sử dụng qua đường uống, rutin hầu như không được hấp thu nguyên vẹn (sinh khả dụng tuyệt đối xấp xỉ 0) mà phải trải qua quá trình thủy phân bởi hệ vi sinh đường ruột thành quercetin, sau đó bị chuyển hóa pha II thành các dẫn xuất liên hợp (glucuronide/sulfate) bởi enzym glucuronyl transferase hoặc bị bơm ngược trở lại lòng ruột bởi hệ thống protein vận chuyển P-glycoprotein (P-gp) và MRP2/3 trên tế bào biểu mô ruột.

Để khắc phục rào cản sinh dược học này, hệ tự vi nhũ hóa (Self-Nanoemulsifying Drug Delivery Systems - SNEDDS) được lựa chọn nghiên cứu. Đây là hệ phân tán đồng thể dạng khan gồm pha dầu, chất diện hoạt và chất đồng diện hoạt/đồng dung môi, có khả năng tự phát tạo thành vi nhũ tương dầu trong nước ($\text{o/w}$) với kích thước giọt dưới $200\text{ nm}$ khi tiếp xúc với dịch tiêu hóa dưới tác động co bóp cơ học của dạ dày và ruột. Hệ giúp hòa tan dược chất ở mức độ phân tử, tăng diện tích tiếp xúc biểu mô, hỗ trợ hấp thu qua hệ bạch huyết và hạn chế chuyển hóa qua gan lần đầu.

Đề tài "Nghiên cứu bào chế hệ tự vi nhũ hóa chứa rutin" của tác giả Nguyễn Hồng Nhung (Trường Đại học Y Dược - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2022) được thực hiện nhằm giải quyết hai nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Bào chế được hệ tự vi nhũ hóa chứa rutin.
  2. Đánh giá được một số đặc tính của hệ tự vi nhũ hóa chứa rutin bào chế được.

Đối tượng nghiên cứu là hoạt chất rutin (đối chiếu chuẩn và nguyên liệu thương mại), kết hợp với các nhóm tá dược thân dầu, chất diện hoạt và chất đồng diện hoạt đạt tiêu chuẩn Dược điển Châu Âu (EP) và Tiêu chuẩn nhà sản xuất (TCNSX). Phạm vi thực nghiệm được tiến hành tại Bộ môn Bào chế và Công nghệ Dược phẩm, Trường Đại học Y Dược - Đại học Quốc gia Hà Nội trong năm 2022.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp thực nghiệm

Khung lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Nghiên cứu dựa trên nguyên lý nhiệt động học của quá trình tự nhũ hóa: hệ tự phát phân tán khi biến thiên năng lượng tự do Gibbs mang giá trị âm ($\Delta G < 0$), tức là sự gia tăng entropy phân tán thắng được năng lượng cần thiết để mở rộng diện tích liên bề mặt pha. Việc lựa chọn công thức tối ưu dựa trên việc xây dựng giản đồ pha ba thành phần (pseudo-ternary phase diagram) để xác định ranh giới vùng hình thành vi nhũ tương nano (tiêu chí: kích thước giọt $\text{KTG} \le 200\text{ nm}$ và chỉ số đa phân tán $\text{PDI} \le 0{,}3$).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

  • Thẩm định phương pháp định lượng HPLC: Xây dựng quy trình định lượng rutin theo Dược điển Trung Quốc 2015 trên hệ thống sắc ký Agilent Infinity 1260. Cột sắc ký Agilent C18 ($4{,}6 \times 250\text{ mm}$, $5\text{ }\mu\text{m}$); đầu dò tử ngoại (UV) đặt tại bước sóng $360\text{ nm}$; tốc độ dòng $1{,}0\text{ mL/phút}$; thể tích tiêm $20\text{ }\mu\text{L}$; nhiệt độ cột $25 \pm 0{,}5^\circ\text{C}$. Pha động gồm nước/acid formic $0{,}1%$ (kênh A) và acetonitril (kênh B) theo chương trình gradient: 0–9 phút ($80%$ A), 9–10 phút ($40%$ A), 10–11 phút ($0%$ A), 11–12 phút ($80%$ A).
  • Khảo sát độ tan bão hòa: Xác định độ tan của rutin trong 6 tá dược dầu, 6 chất diện hoạt và 6 chất đồng diện hoạt bằng cách khuấy trộn lượng dư dược chất trong $1\text{ mL}$ tá dược ở $25 \pm 2^\circ\text{C}$ trong 72 giờ, ly tâm $7500\text{ vòng/phút}$ trong 15 phút, lọc qua màng $0{,}45\text{ }\mu\text{m}$ và định lượng bằng HPLC ($n=3$).
  • Đánh giá tính tương hợp hóa học: Trộn rutin với từng tá dược theo tỷ lệ $1:1$ (khối lượng), lưu giữ ở điều kiện lão hóa cấp tốc ($40 \pm 2^\circ\text{C}$, độ ẩm tương đối $\text{RH} = 75 \pm 5%$) trong tủ vi khí hậu Climacell trong 1 tháng. Đánh giá hàm lượng hoạt chất còn lại bằng HPLC và phân tích biến đổi liên kết hóa học qua phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FTIR) trong dải sóng $4000 - 400\text{ cm}^{-1}$.
  • Xây dựng giản đồ pha: Cố định tỷ lệ phối hợp pha dầu và hỗn hợp $\text{S}_{\text{mix}}$ (chất diện hoạt/đồng diện hoạt), gia nhiệt khuấy trộn đồng nhất ở $45 - 50^\circ\text{C}$. Phân tán $50\text{ mg}$ hỗn hợp vào $20\text{ mL}$ nước cất, khuấy nhẹ và đánh giá cảm quan, đo KTG và PDI. Xây dựng ranh giới vùng tự nhũ hóa bằng phần mềm CHEMIX School 10.0.
  • Đánh giá đặc tính hệ SNEDDS:
    • Kích thước giọt (KTG) và chỉ số đa phân tán (PDI) đo bằng phương pháp tán xạ ánh sáng động (DLS) trên thiết bị Horiba Scientific Nano Partica SZ-100.
    • Độ ổn định vật lý qua thử nghiệm ly tâm $5000\text{ vòng/phút}$ trong 30 phút.
    • Thời gian tự nhũ hóa xác định trên thiết bị thử độ hòa tan cánh khuấy ($50\text{ vòng/phút}$, $500\text{ mL}$ nước ở $37 \pm 2^\circ\text{C}$).
    • Độ truyền qua đo quang phổ UV-Vis tại bước sóng $650\text{ nm}$.
    • Đánh giá độ giải phóng in vitro đóng nang gelatin số 0 trong $900\text{ mL}$ đệm phosphat pH 6,8 và đệm HCl pH 1,2 ở tốc độ $50\text{ vòng/phút}$.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

Chương này tổng hợp cơ sở lý luận về cấu trúc hóa học, tính chất lý hóa và các tác dụng dược lý của rutin (làm bền mao mạch, chống oxy hóa, kháng khuẩn qua ức chế DNA gyrase, kháng viêm qua ức chế $\text{NF-\kappa B}$ và iNOS, chống đái tháo đường qua kích hoạt thụ thể $\text{PPAR}\gamma$). Tác giả phân tích các hạn chế dược động học của rutin và cơ chế cải thiện sinh khả dụng của hệ SNEDDS (tăng độ tan, tăng khuếch tán qua lớp chất nhầy từ 3–5 lần, hấp thu qua hệ bạch huyết tránh chuyển hóa qua gan). Đồng thời, chương 1 tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước về SNEDDS mang rutin và các flavonoid tự nhiên tương đồng như quercetin và curcumin.

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 2 trình bày chi tiết nguồn gốc nguyên liệu đạt chuẩn dược dụng (như Labrafac PG, Transcutol P, Labrasol của Gattefossé - Pháp; Tween 80 của Mỹ; Rutin chuẩn của Viện Kiểm nghiệm thuốc Trung ương) và hệ thống thiết bị đo đạc chuyên dụng. Toàn bộ quy trình thực nghiệm được chuẩn hóa thành văn bản: từ quy trình thẩm định HPLC (tính tương thích hệ thống, độ đặc hiệu, khoảng tuyến tính, LOD, LOQ), quy trình sàng lọc độ tan, quy trình khảo sát tương hợp cấp tốc đến phương pháp xây dựng giản đồ pha và kỹ thuật đánh giá hóa lý vi nhũ tương.

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chương 3 công bố toàn bộ dữ liệu thực nghiệm thu được:

  • Kết quả thẩm định HPLC cho thấy tính tương thích hệ thống cao với độ lệch chuẩn tương đối thời gian lưu $\text{RSD} = 0{,}15%$ ($< 1%$) và diện tích pic $\text{RSD} = 1{,}97%$ ($< 2%$). Khoảng tuyến tính đạt hệ số tương quan $R^2 = 1{,}0000$ trong khoảng nồng độ $0{,}5 - 50\text{ }\mu\text{g/mL}$; giới hạn phát hiện $\text{LOD} = 0{,}05\text{ }\mu\text{g/mL}$ và giới hạn định lượng $\text{LOQ} = 0{,}15\text{ }\mu\text{g/mL}$.
  • Khảo sát độ tan bão hòa và sàng lọc tá dược ($n=3$):
Nhóm tá dược Tên tá dược khảo sát Độ tan bão hòa của Rutin ($\text{mg/mL}$)
Pha dầu Labrafac PG $0{,}312 \pm 0{,}021$
Dầu hướng dương $0{,}087 \pm 0{,}026$
Capryol 90 $0{,}046 \pm 0{,}016$
Miglyol $0{,}013 \pm 0{,}003$
Dầu đậu nành, Dầu ô liu, Acid oleic Không phát hiện pic trên sắc ký đồ
Chất diện hoạt Labrasol $13{,}492 \pm 0{,}752$
Tween 80 $11{,}077 \pm 0{,}892$
Acrysol $2{,}600 \pm 0{,}713$
Cremophor RH 40 $1{,}297 \pm 0{,}216$
Acrysol K140 $0{,}812 \pm 0{,}135$
Labrafil M1994 CS $0{,}046 \pm 0{,}021$
Chất đồng diện hoạt Transcutol P $73{,}434 \pm 2{,}634$
PEG 400 $66{,}589 \pm 2{,}171$
Glycerin $4{,}190 \pm 0{,}512$
Polypropylenglycol (PPG) $1{,}998 \pm 0{,}431$
Plurol oleique CC 497 $0{,}373 \pm 0{,}102$
Lauroglycol 90 Không phát hiện pic trên sắc ký đồ
  • Thử nghiệm tương hợp sau 1 tháng lão hóa cấp tốc chứng minh rutin bền vững trong Labrafac PG ($96{,}55%$), Tween 80 ($98{,}68%$), Labrasol, Transcutol P và PEG 400 (hàm lượng biến thiên $< 2%$). Phổ FTIR khẳng định không có sự thay đổi cấu trúc hóa học hay liên kết lạ (duy trì pic dao động $\text{O-H}$ ở $3420{,}96\text{ cm}^{-1}$, $\text{C=O}$ ở $1651{,}0\text{ cm}^{-1}$ và $\text{C=C}$ nhân thơm ở $1594{,}91\text{ cm}^{-1}$).
  • Thử nghiệm tạo nhũ tương sơ bộ loại bỏ Labrasol vì tạo hệ không ổn định ($\text{KTG} = 497{,}4 \pm 39{,}9\text{ nm}$, tách giọt dầu trên thành cốc). Tween 80 tạo hệ nhũ tương đồng nhất, trong mờ với $\text{KTG} = 124{,}3 \pm 2{,}6\text{ nm}$.
  • Xây dựng giản đồ pha cho 2 hệ tá dược:
    • Hệ SNEDDS 1 (Labrafac PG – Tween 80 – Transcutol P): Vùng tự vi nhũ hóa trải rộng ở dải Labrafac PG ($20-60%$), Tween 80 ($30-80%$), Transcutol P ($0-30{,}2%$). Công thức trắng tối ưu được chọn là $30%$ Labrafac PG : $40%$ Tween 80 : $30%$ Transcutol P ($\text{KTG} = 53{,}6 \pm 1{,}2\text{ nm}$, $\text{PDI} = 0{,}285 \pm 0{,}041$).
    • Hệ SNEDDS 2 (Labrafac PG – Tween 80 – PEG 400): Vùng tự nhũ hóa hẹp hơn ở dải Labrafac PG ($40-60%$), Tween 80 ($30-50%$), PEG 400 ($0-30%$). Công thức trắng được chọn là $20%$ Labrafac PG : $50%$ Tween 80 : $30%$ PEG 400 ($\text{KTG} = 20{,}2 \pm 0{,}3\text{ nm}$, $\text{PDI} = 0{,}280 \pm 0{,}041$).
  • Khảo sát tải lượng hoạt chất (tỷ lệ rutin từ $2%$ đến $20%$ khối lượng):
    • Ở nồng độ $\ge 10%$, rutin không tan hết, xuất hiện cặn lắng.
    • Ở dải $2% - 6%$, cả hai hệ đều tạo vi nhũ tương trong/đồng nhất, bền vững sau ly tâm $5000\text{ vòng/phút}$ trong 30 phút, đạt $\text{KTG} \le 200\text{ nm}$ và $\text{PDI} \le 0{,}3$.
    • Tại nồng độ $8%$, Hệ 1 bị tách lớp và tủa sau 15 phút ($\text{KTG} = 435{,}2\text{ nm}$); Hệ 2 bị kết tủa sau 4 giờ ($\text{PDI} = 0{,}499$).
    • Công thức chứa $4%$ rutin đạt chất lượng tối ưu: Hệ 1 có $\text{KTG} = 129{,}6\text{ nm}$, $\text{PDI} = 0{,}233$; Hệ 2 có $\text{KTG} = 17{,}9\text{ nm}$, $\text{PDI} = 0{,}159$.

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

Tác giả phân tích cơ chế tạo vi nhũ tương: Transcutol P và PEG 400 đóng vai trò dung môi trung gian chèn vào lớp đơn phân tử diện hoạt Tween 80, làm giảm mạnh sức căng bề mặt pha dầu/nước. Hệ chứa Transcutol P cho diện tích vùng tự nhũ hóa lớn hơn nhờ khả năng phối hợp dung môi vượt trội. Tác giả thảo luận về việc giới hạn hàm lượng chất diện hoạt ở mức $\le 50%$ nhằm giảm nguy cơ kích ứng niêm mạc tiêu hóa khi sử dụng đường uống kéo dài, đồng thời bảo đảm hệ vi nhũ tương có kích thước hạt đồng đều dưới $200\text{ nm}$.

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Khẳng định hoàn thành trọn vẹn 2 mục tiêu nghiên cứu: đã sàng lọc được thành phần tá dược tối ưu, thiết lập ranh giới giản đồ pha, bào chế thành công hệ SNEDDS mang $4%$ rutin ổn định và đánh giá đầy đủ các chỉ số hóa lý cốt lõi. Tác giả kiến nghị tiếp tục triển khai các thử nghiệm giải phóng in vitro trên nhiều môi trường pH, đánh giá sinh khả dụng in vivo trên động vật thực nghiệm và nghiên cứu kỹ thuật hóa rắn hệ SNEDDS thành dạng thuốc rắn.


Kết quả và đóng góp khoa học

Kết quả chính

  • Xác lập được phương pháp định lượng rutin bằng HPLC có độ chính xác cao, thời gian phân tích ngắn ($12\text{ phút}$), đạt đầy đủ các tiêu chuẩn thẩm định phân tích theo ChP 2015.
  • Sàng lọc được bộ tá dược tối ưu hòa tan rutin cao nhất trong từng nhóm: Labrafac PG (pha dầu, $0{,}312\text{ mg/mL}$), Tween 80 (chất diện hoạt, $11{,}077\text{ mg/mL}$), Transcutol P (chất đồng diện hoạt, $73{,}434\text{ mg/mL}$) và PEG 400 ($66{,}589\text{ mg/mL}$).
  • Xây dựng thành công giản đồ pha ba thành phần xác định vùng tự nhũ hóa của hai hệ tá dược.
  • Thiết lập công thức bào chế hệ tự vi nhũ hóa mang $4%$ rutin với các thông số hóa lý vượt trội:
    • Công thức Hệ 1 (Labrafac PG : Tween 80 : Transcutol P tỷ lệ $30:40:30$): $\text{KTG} = 129{,}6\text{ nm}$, $\text{PDI} = 0{,}233$, hệ bền vững không phân lớp khi ly tâm $5000\text{ vòng/phút}$ trong 30 phút.
    • Công thức Hệ 2 (Labrafac PG : Tween 80 : PEG 400 tỷ lệ $20:50:30$): $\text{KTG} = 17{,}9\text{ nm}$, $\text{PDI} = 0{,}159$, vi nhũ tương trong suốt và có độ đồng đều phân bố kích thước hạt cao.

Đóng góp khoa học

  • Đưa ra giải pháp công nghệ bào chế hoàn chỉnh cho một hoạt chất flavonoid thiên nhiên thuộc nhóm BCS IV có độ tan và tính thấm rất kém.
  • Cung cấp dữ liệu thực nghiệm hệ thống về độ hòa tan bão hòa và tính tương hợp cấp tốc của rutin trên 18 loại tá dược lipid, chất diện hoạt và đồng dung môi khác nhau, làm tiền đề dữ liệu cho các nghiên cứu phát triển thuốc từ rutin.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Hạn chế của đề tài

  • Các đánh giá mới dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm và tập trung vào các đặc tính hóa lý in vitro ban đầu.
  • Chưa thực hiện khảo sát dược động học và sinh khả dụng in vivo trên mô hình động vật thực nghiệm (như chuột cống trắng hoặc thỏ) để định lượng trực tiếp mức độ gia tăng chỉ số AUC, $\text{C}{\text{max}}$ và giảm $\text{T}{\text{max}}$ của rutin trong máu.
  • Nghiên cứu độ ổn định mới dừng lại ở thử nghiệm lão hóa cấp tốc trong thời gian 1 tháng đối với hỗn hợp tá dược, chưa theo dõi độ ổn định dài hạn của thành phẩm hệ SNEDDS hoàn chỉnh nạp hoạt chất.

Hướng nghiên cứu phát triển

  • Thực hiện đầy đủ thử nghiệm đánh giá độ hòa tan và giải phóng in vitro của nang chứa SNEDDS rutin trong các môi trường mô phỏng dịch dạ dày giả (pH 1,2) và dịch ruột giả (pH 6,8).
  • Tiến hành thử nghiệm dược động học in vivo nhằm so sánh sinh khả dụng tương đối giữa hệ SNEDDS rutin và rutin nguyên liệu quy ước.
  • Nghiên cứu công nghệ hóa rắn hệ SNEDDS lỏng thành dạng bột/hạt tự vi nhũ hóa (Solid-SNEDDS) bằng phương pháp hấp phụ lên chất mang trơ xốp (như Aerosil, Neusilin) hoặc sấy phun, nhằm tăng độ ổn định hóa lý và thuận tiện đóng nang cứng hoặc dập viên.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu chuyên khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên sau đại học ngành Dược học (chuyên ngành Bào chế và Công nghệ Dược phẩm): Cung cấp tài liệu mẫu mực về phương pháp luận thiết kế thí nghiệm bào chế hệ mang thuốc lipid (Lipid-Based Drug Delivery Systems), cách thức ứng dụng giản đồ pha tam giác để sàng lọc công thức và quy trình thẩm định HPLC định lượng hoạt chất.
  • Cán bộ nghiên cứu và phát triển (R&D) tại các viện, doanh nghiệp dược: Cung cấp thông số kỹ thuật chi tiết về độ tan, tính tương hợp và tỷ lệ phối hợp tá dược GRAS/EP để ứng dụng phát triển các sản phẩm thuốc hoặc thực phẩm bảo vệ sức khỏe chứa rutin và các dẫn xuất flavonoid kém tan.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao rutin nguyên liệu có sinh khả dụng đường uống kém và thuộc nhóm nào trong bảng phân loại BCS?

Rutin thuộc Nhóm IV trong bảng phân loại sinh dược học (BCS) do có độ tan rất thấp trong nước ($125\text{ mg/L}$) và tính thấm màng sinh học kém ($\text{log}P \approx 0$). Khi uống, rutin bị chuyển hóa mạnh tại đường tiêu hóa thành quercetin, bị liên hợp bởi enzym glucuronyl transferase và bị tống xuất ngược lại lòng ruột bởi bơm P-glycoprotein, dẫn đến sinh khả dụng tuyệt đối xấp xỉ bằng 0.

2. Dựa trên kết quả thực nghiệm, tá dược nào hòa tan rutin tốt nhất trong từng nhóm?

Theo kết quả định lượng HPLC ($n=3$):

  • Pha dầu: Labrafac PG đạt độ tan cao nhất ($0{,}312 \pm 0{,}021\text{ mg/mL}$).
  • Chất diện hoạt: Labrasol ($13{,}492 \pm 0{,}752\text{ mg/mL}$) và Tween 80 ($11{,}077 \pm 0{,}892\text{ mg/mL}$).
  • Chất đồng diện hoạt: Transcutol P ($73{,}434 \pm 2{,}634\text{ mg/mL}$) và PEG 400 ($66{,}589 \pm 2{,}171\text{ mg/mL}$).

3. Tại sao Labrasol có độ tan rutin cao nhưng không được chọn làm chất diện hoạt chính cho công thức cuối cùng?

Mặc dù Labrasol hòa tan rutin tốt ($13{,}492\text{ mg/mL}$), nhưng khi phối hợp với pha dầu Labrafac PG và phân tán vào nước cất, hệ tạo nhũ tương không đồng nhất, kích thước hạt lớn ($\text{KTG} = 497{,}4 \pm 39{,}9\text{ nm}$), có hiện tượng tách lớp và bám dính giọt dầu lên thành cốc thủy tinh. Do đó, Tween 80 được chọn vì tạo vi nhũ tương trong mờ, đồng nhất với $\text{KTG} = 124{,}3 \pm 2{,}6\text{ nm}$.

4. So sánh vùng tự vi nhũ hóa trên giản đồ pha của hệ dùng Transcutol P và hệ dùng PEG 400?

Hệ 3 thành phần Labrafac PG – Tween 80 – Transcutol P có vùng tự nhũ hóa nano rộng hơn đáng kể (tỷ lệ dầu Labrafac PG: $20-60%$, Tween 80: $30-80%$, Transcutol P: $0-30{,}2%$) so với hệ Labrafac PG – Tween 80 – PEG 400 (tỷ lệ Labrafac PG: $40-60%$, Tween 80: $30-50%$, PEG 400: $0-30%$).

5. Tỷ lệ nạp dược chất rutin tối ưu vào hệ SNEDDS được xác định là bao nhiêu?

Tỷ lệ nạp rutin tối ưu được xác định là $4%$ (theo khối lượng tá dược). Ở mức này, vi nhũ tương tạo thành có kích thước hạt rất nhỏ ($\text{KTG} = 17{,}9\text{ nm}$ với hệ PEG 400 và $129{,}6\text{ nm}$ với hệ Transcutol P), chỉ số $\text{PDI} \le 0{,}233$ và bền vững hoàn toàn dưới lực ly tâm $5000\text{ vòng/phút}$ trong 30 phút. Khi tăng nồng độ rutin lên $\ge 8%$, hệ xuất hiện hiện tượng tách lớp, tủa hoạt chất hoặc không tan hết.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Hồng Nhung đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu đề ra trong việc ứng dụng công nghệ tự vi nhũ hóa để cải thiện độ tan cho hoạt chất rutin thuộc nhóm BCS IV. Đề tài đã thẩm định thành công quy trình phân tích sắc ký HPLC, xây dựng được giản đồ pha ba thành phần và xác lập công thức SNEDDS tối ưu chứa $4%$ rutin với kích thước hạt nano dưới $130\text{ nm}$ và độ ổn định vật lý cao. Kết quả này cung cấp cơ sở khoa học và thực nghiệm vững chắc cho việc tiếp tục phát triển các dạng thuốc rắn tự vi nhũ hóa chứa rutin có sinh khả dụng cao trong thực tiễn điều trị.