CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VE TIEN LUONG VÀ NĂNG SUÁT LAO ĐỘNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Việc nghiên cứu van đề “Ảnh hưởng của Tiền lương đến Năng suất lao động” được rất nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu và đánh giá. Tuy nhiên, chính thức tiến hành nghiên cứu vấn đề này trên một phạm vi và đối tượng nhất định thông qua mô hình bằng phương pháp định lượng và định tính kết hợp thì ở Việt Nam chưa có nhiều, hầu hết các tác giả nghiên cứu dựa trên sự tăng giảm tiền lương, quỹ tiền lương tác động đến sự tăng giảm Năng suất lao động của Doanh nghiệp thông qua các con số hiện hình qua các thời kỳ, từ đó so sánh sự chênh lệch về số liệu dé rút ra kết luận về sự ảnh hưởng, đề xuất những giải pháp tăng giảm tiền lương và quỹ lương cho thời kỳ tiếp theo. Nhưng việc tăng năng suất lao động ngoài những yếu tô tác động thể hiện về mặt con số như Quỹ tiền lương, quỹ phụ cấp, quỹ khen thưởng, nó còn chịu sự ảnh hưởng từ yếu tố con người, lao động, những yếu tố mang tính định tính thuộc về Tiền lương như chính sách tiền lương, hình thức trả lương, cấp bậc chức vụ và co hội thăng tiễn, chế độ khen thưởng không bằng tiền.những yếu tố này tác động trực tiếp đến thái độ, tinh thần làm việc của Nhân viên, có thể làm cho Nhân viên thỏa mãn hoặc không, có thể làm tăng hiệu quả công việc và ngược lại tùy vào Chính sách của Công ty.
Vì vậy nghiên cứu ảnh hưởng của Tiền lương không thé bỏ qua sự tác động của các yếu tố mang tính định tính trên. Nghiên cứu này xin được giới thiệu một số bài nghiên cứu tương tự về vấn đề này của các tác gia sau: I. Tình hình nghiên cứu trong nước. Nhóm tác gia thuộc CIEM, Trung tâm Thông tin — Tư liệu Thông tin, 2012.
Vai trò của Lương va Thu nhập như là động lực thúc day tăng trưởng kinh tế bền vững. Viện nghiên cứu Quan lý kinh tế TW. Đối với chuyên đề này, nhóm tác giả đã nghiên cứu và đưa ra vai trò và ảnh hưởng của Tiền lương như là động lực thúc đây tăng trưởng kinh tế bền vững, nhóm tác giả đã nghiên cứu trên phạm vi và đối tượng là “Nền kinh tế”, một phạm vi rat rộng và lớn, vì vậy nhóm tác giả nghiên cứu trên diện rộng, đánh giá chung thông qua việc thu thập và xử lý số liệu để đưa ra những giải pháp mang tầm cỡ quốc gia, đưa ra những chính sách về Tiền lương phù hợp với nền kinh tế hiện nay nhằm thúc đây tăng trưởng kinh tế bền vững. Với chuyên đề này, nhóm tác giả phân tích thông tin mang tính lý thuyết, định tính, nhưng kết quả nhóm tác giả cũng đưa ra được những kiến nghị có lợi cho việc cải cách chính sách tiền lương của nước ta.
Trong chuyên dé này, ngoài yếu tố Tiền lương làm trọng tâm, nhóm tác giả cũng rất coi trọng các yếu tố định tính tac động trực tiếp đến người lao động, là động lực khuyến khích họ trong công việc. Nguyễn Hữu Dũng, 2010. Chính sách Tiền lương: Thực trạng, vấn đề và yêu cau đặt ra trong giai đoạn 2011 -2015. Viện Khoa học và Xã hội.
Với đề tài nghiên cứu này, tác giả rất quan tâm đến yếu tô Tiền lương, tác giả nghiên cứu vấn đề này trên phạm vi nền kinh tế thị trường, tác giả cho rằng Chính sách tiền lương là một trong những nội dung quan trọng của thé chế kinh tế thi trường. Do đó hoàn thiện chính sách tiền lương sẽ góp phần to lớn hoàn thiện thê chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta. Tuy nhiên, Chính sách tiền lương là vấn đề rất tông hợp, có nhiều mối quan hệ chính trị, kinh tế - xã hội tương tác chặt chẽ với nhau, liên quan đến vấn đề sở hữu, phân bố nguồn lực, quan hệ giữa tích lũy và tiêu dung, phát triển nguồn nhân lực, an sinh xã hội., tác giả cũng cho rằng trong kinh tế thị trường, chính sách tiền lương quốc gia cần phải tách bạch giữa các khu vực: sản xuất kinh doanh (doanh nghiệp), hành chính nhà nước và sự nghiệp cung cấp dịch vụ công. Kết quả nghiên cứu tác giả đạt được cũng rất rõ ràng và phù hợp với điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, tác giả đã đưa ra 3 kiến nghị cơ bản cho Chính sách Tiền lương đó là (1) Tiền lương và thu nhập trả cho người lao động phải đảm bảo đủ sống; (2) Thực hiện nguyên tắc công bằng về phân phối tiền lương và thu nhập trong doanh nghiệp ; (3) Phân phối tiền lương và thu nhập trong doanh nghiệp phải đảm bảo mối quan hệ hài hoà lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng lao động và người lao động, giữa ngắn hạn và dài hạn.
Tuy nhiên, dù kết quả đạt được tác giả đã trình bày rất rõ ràng nhưng đó chỉ dựa trên những nghiên cứu, lý luận, cách nhìn nhận của riêng tác giả về vấn đề đó, không có sự kiểm định giả thuyết, không có con số thé hiện mức độ sử ảnh hưởng mà tác giả đã đề xuất. Tất cả những nghiên cứu của tác giả dựa trên sự lập luận. Nguyễn Thế Truyền, 1996. Về các chỉ tiêu biểu hiện mức năng suất lao động và vận dụng phương pháp chỉ số phân tích biến động mức Năng suất lao động trong doanh nghiệp công nghiệp ngành dệt.
Dai học Kinh tế TPHCM. Trong bài nghiên cứu này, tác giả đã nghiên cứu về Năng suất lao động và biến động mức năng suất lao động, trong đó tác giả nghiên cứu mức biến động tiền lương so với mức biến động năng suất lao động, tác giả dựa vào số liệu trên báo cáo tài chính của Công ty để so sánh sự tăng giảm biến động của Quỹ Tiền lương, tác động đến sự tăng giảm biến động của NSLĐ qua các thời kỳ, từ đó tác giả nhận xét được mức độ ảnh hưởng và đưa ra các giải pháp tăng NSLD cho kỳ sau dựa vào yếu tố Tiền lương. Tác giả cũng chỉ ra được không phải cứ tăng Quỹ tiền lương thì sẽ tăng năng suất lao động và ngược lại, nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tỐ. Tuy nhiên tác gia chưa nghiên cứu sự ảnh hưởng của các yếu tố định tính thuộc về Tiền lương tác động đến con người, một yếu tố tác động trực tiếp và ảnh hưởng to lớn đến NSLD, tác giả không sử dụng mô hình đề nghiên cứu sự ảnh hưởng đó.
Lương tối thiểu và Năng suất lao động. Thời báo Kinh tế Sài Gòn (http://www.vn/118810/Luong-toi-thieu-va-nang-suat- lao-dong. Tác giả đã đưa ra những số liệu va tài liệu thứ cấp tác gia thu thập được dé khăng định tầm quan trọng của Năng suất lao động, tác giả cũng đưa ra những lập luận liên quan đến Lương tối thiêu hiện nay ở Việt Nam, chính sách Lương của nha nước rất chú trọng nghiên cứu việc tăng mức lương tối thiêu, nhưng thực tế việc tăng lương tối thiểu này chỉ làm tăng thêm Chi phí lương cúa Doanh nghiệp, mức tăng cho Người lao động không đáng bao nhiêu, cùng với đó khi nhà nước tăng lương tối thiểu, giá cả thị trường tăng theo, phần lương được tăng không thé bù đắp được chi phí tăng theo đó. Mặt khác việc tăng Chi phí lương đó của Doanh nghiệp góp phần làm giảm năng suất lao động, tốc độ tăng lương cao hơn tốc độ tăng năng suất lao động.
Tác giả cũng dẫn chứng một nghiên cứu gần đây của Tổ chức Lao động Thế giới (ILO) cho thấy năng suất lao động của Việt Nam thuộc nhóm thấp nhất châu A - Thái Bình Dương, thấp hơn Singapore gần 15 lần, thấp hon Nhật 11 lần và Hàn Quốc 10 lần. So với các nước láng giềng ASEAN có mức thu nhập trung bình, năng suất lao động của Việt Nam vẫn có khoảng cách lớn, chỉ bằng một phần năm Malaysia và hai phần năm Thái Lan, các nhà chức trách tại Việt Nam cũng đang rất quan tâm đến kết quả này, quan tâm đến tầm quan trọng của yếu tổ Năng suất lao động trên nền kinh tế, từ đó định hướng tập trung nghiên cứu và phân tích sâu hơn dé mang lại hiệu quả tốt nhất. Nguyễn Thanh Phúc, 2012. Lương phải là động lực phan đấu cho người lao động.
Tạp chí Tuyên giáo, số 4 ngày 06/05/2012. Ta thay dé tăng năng suất lao động, quan tâm đến yếu tố con người hay Người lao động là cực kỳ cần thiết. Trong bài viết này, tác giả đã rất đúng đắn đề cập thắng va khang định “'Lương phải là động lực phan đấu cho người lao động”? có như thế mới tăng được Năng suất lao động. Tác giả cũng đề cập đến những chính sách tăng lương tối thiểu chung và lương tối thiểu của nhà nước ta, sau 7 lần điều chỉnh tăng lương tối thiểu khu vực hành chính sự nghiệp nhà nước vẫn tồn tại nghịch lý: Lương tăng không theo kịp tốc độ trượt giá, lạm phát.
Nếu theo quan điểm chỉ đạo cải cách chế độ, chính sách tiền lương để đội ngũ cán bộ, công chức yên tâm công tác, công hiến. thì điều này vẫn còn ở phía trước. Tác giả đưa ra một số dẫn chứng phát biểu có trọng lượng như phát biểu của Thứ trưởng Bộ Nội vụ Trần Anh Tuan thừa nhận: “Lương tăng nhưng mới chỉ trên danh nghĩa, chưa bù đắp được so với tốc độ lạm phát, tăng giá các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu phục vụ nhu cầu tái sản xuất sức lao động hàng ngày của đội ngũ công bộc của dân” hay trích dẫn đưa ra nội dung trọng tâm của Đề án Cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi người có công giai đoạn 2012-2020 chuẩn bị trình hội nghị Trung ương lần thứ năm, khóa XI “Tiền lương là thu nhập chủ yếu của người lao động, người lao động phải đủ sống căn bản từ đồng lương; tiền lương phải gắn với năng suất lao động, hiệu quả công việc. Việc cải cách phải giảm được các mâu thuẫn hiện tại của chính sách tiền lương, phù hợp với khả năng của nền kinh tế và ngân sách Nhà nước theo lộ trình thực hiện hợp lý.
Tình hình nghiên cứu nước ngoài. Frederick Winslow Taylor (1856 - 1915) Người được xem là cha đẻ của quản lý khoa học, đã định nghĩa công việc là sự phối hợp của các nhiệm vụ nhằm đem lại hiệu suất tối ưu với các nhân viên hoạt động theo dây chuyền sản xuất. Quan điểm này cho rằng nhân viên là những người lười biếng và không đáng tin cậy nên chỉ có thể thúc đây họ bằng tiền lương và nỗi lo sợ bị sa thải hay thất nghiệp.