Đặt vấn đề Cây đậu tương (Glycine max (L) Merr) là cây công nghiệp, thực phẩm ngắn ngày có tác dụng nhiều mặt trong đời sống xã hội như cung cấp thực phẩm cho con người, làm thức ăn cho gia súc, cải tạo đất và đứng đầu trong việc cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp ép dầu. Đậu tương là một trong những cây có dầu quan trọng bậc nhất trên thế giới và là cây trồng đứng vị trí thứ tư trong các cây làm lương thực thực phẩm sau lúa mỳ, lúa nước và ngô. Hạt đậu tương là loại sản phẩm duy nhất mà giá trị của nó được đánh giá đồng thời cả protein và lipit. Trong đó protein chiếm khoảng 36 - 46%, lipit biến động từ 16 - 24% tuỳ theo giống và điều kiện khí hậu.
Protein đậu tương có giá trị cao không những về hàm lượng lớn mà nó còn đầy đủ và cân đối các loại axit amin, đặc biệt là các loại axit amin không thay thế như: Xystin, Lizin, Valin, Izovalin, Leuxin, Methionin, Triptophan có vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng của cơ thể trẻ em và gia súc. Ngoài ra trong hạt đậu tương còn chứa nhiều loại vitamin như vitamin PP, A, C, E, D, K, đặc biệt là vitamin B1 và B2 (Phạm Văn Thiều, 2006). Tỉnh Thái Nguyên đã có chủ chương đưa giống đậu tương có năng suất cao, chất lượng tốt, ổn định và phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương. Đậu tương được coi là “thịt thực vật” vì trong hạt có chứa lượng Protein rất cao, có thể tương đương với thịt cá, nhưng lại dễ tiêu hơn nhiều.
Trong đậu tương chứa khoảng 35% protein, 8% nước, 4% chất vô cơ, 15% gluxit, 20% chất béo và rất nhiều các vitamin B1, B2, E…. Một kết luận của nhà khoa học Mỹ đưa ra gần đây nếu bạn ăn đậu tương hàng ngày thì lượng Cholesteron trong máu có thể giảm 10 – 15%. Ăn đậu tương thường xuyên có thể khiến da phụ nữ trở nên mềm mại, mịn màng n 2 và trắng hồng. Trong đậu tương có chứa chất Zoflavo, một chất chống lão hóa giúp phụ nữ trẻ lâu, tái tạo các mô, sung sức, tăng trí nhớ và làm cứng xương.
Từ các giá trị trên của cây đậu tương, với ưa thế là cây ngắn ngày, dễ trồng nên thuận tiện để bố trí trong các công thức luân canh, nên thực tế nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới đậu tương được trồng khá phổ biến. Tuy nhiên, thực tế trồng đậu tương ở nước ta còn nhiều hạn chế, đặc biệt là năng suất vẫn còn thấp, sản lượng đậu tương chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng và chế biến. Trong những năm gần đây, theo đánh giá của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển đậu đỗ (Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam) giống đậu tương ĐT84 có nhiều ưu điểm vượt trội như sinh trưởng khỏe, ra nhiều hoa, tỷ lệ đậu quả cao, năng suất cao, chất lượng tốt có thể trồng được 3 vụ/năm, khi thu hoạch thân, lá vẫn còn xanh nên hàm lượng chất hữu cơ nhiều, khả năng bảo vệ và cải tạo đất tốt. Để đáp ứng nhu cầu về cây đậu tương của tỉnh Thái Nguyên cần quy hoạch mở rộng diện tích, đưa giống có năng suất cao, chất lượng tốt, ổn định và phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương.
Bên cạnh đó cần xác định thời vụ thích hợp để đảm bảo cây sinh trưởng phát triển tốt, phát huy tiềm năng cho năng suất của giống. Việc làm đó là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay, chính vì vậy tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ đến sinh trưởng, phát triển năng suất của giống đậu tương DT84 vụ Xuân năm 2017 tại tỉnh Thái Nguyên” 1. Mục đích -Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, chống chịu sâu bệnh và khả năng cho năng suất của giống đậu tương DT84 ở các thời vụ khác nhau -Đề xuất trồng thời vụ thích hợp nhất cho giống đậu tương DT84 trong vụ Xuân 2017 tại tỉnh Thái Nguyên. Yêu cầu của đề tài n 3 - Tìm hiểu về đặc điểm hình thái giống đậu tương nghiên cứu ở các TV khác nhau.
- So sánh khả năng sinh trưởng của giống đậu tương thí nghiệm ở các TV khác nhau. - So sánh khả năng ra hoa, đậu quả của giống đậu tương thí nghiệm ở cấc TV khác nhau. - Theo dõi, đánh giá tình hình sâu và bệnh hại trên giống đậu tương thí nghiệm ở các TV khác nhau. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Đề tài là công trình nghiên cứu làm cơ sở để gieo trồng đậu tương thích hợp mang lại năng suất chất lượng cao. - Kết quả nghiên cứu đề tài là tư liệu quan trọng phục vụ trong công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập về chuyên ngành cây công nghiệp nói chung và chuyên sâu về cây đậu tương nói riêng. - Sinh viên biết trình tự thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học và cách trình bày một báo cáo nghiên cứu khoa học. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất - Bổ sung quy trình trồng đậu tương cho năng suất cao và ổn định phù hợp với điều kiện canh tác trong vụ Xuân tại tỉnh Thái Nguyên.
- Xác định được mật độ, kĩ thuật bón phân và một số biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại cho giống đậu tương DT84. - Góp phần đưa đậu tương vào luân canh tăng vụ, tăng hiệu quả kinh tế. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 2.
Cơ sở khoa học của đề tài Nhất thì, nhì thục thời vụ gieo trồng có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất đậu tương. Cây đậu tương sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện nhiệt độ cao và ẩm độ đầy đủ. Tuy nhiên theo từng thời kỳ sinh trưởng của cây đậu tương có những yêu cầu khác nhau. Bố trí thời vụ gieo trồng thích hợp, góp phần tạo nên hiệu quả tăng năng suất và chất lượng nông sản.
Đậu tương có thể trồng được quanh năm nhưng tuỳ theo điều kiện sinh thái của từng vùng mà đậu tương được gieo trồng trong các vụ chính khác nhau. Do vậy việc xác định thời vụ gieo trổng thích hợp cho cây đậu tương là rất cần thiết, góp phần làm tăng năng suất, chất lượng, tránh được thời tiết bất thuận, sâu bệnh hại mang lại hiệu quả kinh tế, cải thiện đời sống cho người dân. Thời vụ gieo trồng có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất đậu tương. Cây đậu tương sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện nhiệt độ cao và ẩm độ đầy đủ.
Tuy nhiên theo từng thời kỳ sinh trưởng của cây đậu tương có những yêu cầu khác nhau. Bố trí thời vụ gieo trồng thích hợp, tạo điều kiện cho các yếu tố khí hậu thời tiết bên ngoài phù hợp với yêu cầu sinh trưởng phát triển của cây đậu tương ở từng thời kỳ mới đảm bảo cho đậu tương được năng suất cao. Cơ sở thực tiễn Hiện nay, hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng, diện tích bỏ hóa còn nhiều, tập trung chủ yếu là những diện tích không chủ động nước, chưa có công trình thủy lợi để phục vụ sản xuất. Việc đưa cây trồng cạn nói chung và cây đậu tương nói riêng vào sản xuất ở các vùng này là rất cần thiết.
Một mặt góp phần tăng vụ và tận dụng n 5 diện tích đất bỏ hóa, góp phần cải tạo đất, chống xói mòn, mặt khác góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, cải thiện đời sống cộng đồng. Tình hình sản xuất, nghiên cứu thời vụ trồng đậu tương trên thế giới 2. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Ngày nay, đậu tương đã và đang được coi là cây trồng quan trọng trên thế giới. Điều này thật dễ hiểu bởi vai trò to lớn của đậu tương trong cuộc sống của con người.
Tuy nhiên, hiện nay việc phát triển đậu đỗ mới được nhiều người quan tâm. Bởi đậu tương tuy có nguồn gốc từ vùng viễn đông và được biết từ cách đây 5000 năm. Song việc phát triển đậu tương và nơi đạt sản lượng lớn lại không nằm ở vùng Viễn đông mà lại thuộc về Bắc Mỹ. Vùng trồng đậu tương chủ yếu ở Châu Á là Trung Quốc, Triều Tiên và Indonesia.
Vùng trồng ít đậu tương hơn là Nhật Bản và một số nước khác ở Đông Nam Á. Do giá trị nhiều mặt của cây đậu tương và do nhu cầu sử dụng nguồn protein ngày càng cao, đồng thời đậu tương có khả năng thích ứng khá rộng nên được trồng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Diện tích, năng suất và sản lượng không ngừng tăng lên qua các thời kỳ. Số liệu thống kê về diện tích, năng suất và sản lượng trên thế giới được thể hiện ở bảng 1.1: Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới 5 năm gần đây Năm Diện tích (triệu ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (triệu tấn) 2010 102,79 25,77 264,91 2011 103,82 25,20 261,60 2012 105,37 22,93 241,58 2013 111,63 24,91 278,09 2014 117,72 26,20 308,44 (Nguồn: FAOSTAT Browse Data,2016) n 6 Qua số liệu bảng 1.1 ta thấy: Trong vòng 5 năm trở lại đây diện tích trồng đậu tương trên thế giới có sự tăng nhẹ, tăng gần 15 triệu ha từ năm 2010 đến năm 2014.
Năng suất: Trong 5 năm, từ năm 2010-2014 năng suất đậu tương trên thế giới tương đối ổn định dao động từ 22,93 đến 26,2 tạ/ha. Năm 2012, năng suất đậu tương trên thế giới đạt thấp nhất là 22,93 tạ/ha. Năm 2014, năng suất đậu tương cao nhất là 26,2 tạ/ha. Năm 2010 và 2011 tương đương nhau chênh lệch không đáng kể cụ thể 2010 là 25,77 tạ/ha và năm 2011 là 25,20 tạ/ha Sản lượng: sản lượng đậu tương trên thế giới tăng lên đều trong 5 năm,trong 4 năm từ 2010-2014 tăng nhẹ qua các năm tổng tăng qua 4 năm là 43,53 triệu tấn.
Đến năm 2014 sản lượng đã đạt 308,44 triệu tấn tăng khoảng 30 triệu tấn. Các nước sản xuất lớn như: Mỹ, Brazil, Argentina, Trung Quốc, Ấn Độ, Tây Ban Nha, Úc… Diện tích đậu nành trên thế giới tập trung chủ yếu ở Mỹ, Braxin, Trung Quốc, Argenina, Ấn Độ trong đó Mỹ thường chiếm 1/3 diện tích đậu nành hàng năm (31 triệu ha). Nước Mỹ đã hết sức chú trọng đến việc phát triển đậu đỗ. Không những tăng về diện tích mà Mỹ còn quan tâm đến vấn đề nghiên cứu và tạo giống.
Hiệp hội đậu tương Hoa Kỳ (ASA: American Soybean Association) được thành lập từ năm 1920 có 52 nghìn hội viên. Ở Mỹ việc chọn lọc, nhập nội và lai tạo giống rất được quan tâm.000 mẫu giống được thu thập từ khắp nơi trên thế giới.