MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Bí đỏ (Cucurbita pepo L.) có tên tiếng Anh là Pumpkin, là một loại cây dây thuộc chi Cucurbita và họ bầu bí Cucurbitaceae. Bí đỏ là loại cây dễ trồng, thích nghi rộng với điều kiện vùng nhiệt đới, có thể trồng ở đồng bằng cho đến cao nguyên có độ cao 1500m, đƣợc trồng khắp ở mọi miền của Việt Nam. Cây bí đỏ có thể trồng đƣợc vào tất cả các vụ trong năm.
Bí đỏ sử dụng làm thực phẩm chủ yếu là quả giàu vitamin A, quả chứa 85 - 91% nƣớc, chất đạm 0,8 - 2g, chất béo 0,1 - 0,5g, chất bột đƣờng 3,3 - 11g, cho năng lƣợng 85 - 170kJ/100g. Ngoài ra, hoa, lá và đọt non cũng đƣợc dùng làm rau ăn. Phƣơng thức sử dụng các sản phẩm của bí đỏ cũng rất phong phú nhƣ: Nấu canh, làm rau, làm mứt, làm bánh, làm nguyên liệu công nghiệp chế biến… Bí đỏ đƣợc biết đến nhƣ một loại thực phẩm giàu dinh dƣỡng.Quả bí đỏ chứa nhiều vitamin và khoáng chất, cũng là một vị thuốc nam trị nhiều bệnh. Mặc dù bí đỏ là cây trồng rất quen thuộc với đời sống con ngƣời, nhƣng cho tới nay vẫn còn chƣa có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về loại cây trồng này, diện tích trồng còn nhỏ lẻ, phân tán và chƣa đƣợc quy mô hóa sản xuất.
Kỹ thuật canh tác của ngƣời dân ở các địa phƣơng còn hạn chế do chƣa có nhiều tài liệu nghiên cứu hay các quy trình hƣớng dẫn kỹ thuật cụ thể về cách trồng, lựa chọn thời vụ trồng loại cây trồng này… Vì vậy, việc nghiên cứu áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong trồng trọt, thâm canh và chọn thời vụ chon giống bí đỏ có năng suất, chất lƣợng phù hợp với các vùng sinh thái, đồng thời tạo thành những vùng chuyên canh đem lại hiệu quả kinh tế cho ngƣời trồng bí đỏ là rất cần thiết. Phần lớn nông dân chỉ trồng theo tập quán là chính, chƣa chú trọng đến vấn đề lựa chọn thời vụ trồng. Cho nên việc nghiên cứu lựa chọn thời vụ 2 trồng cho bí có chất lƣợng cao, phù hợp với các điều kiện sinh thái từng vùng miền đáp ứng đƣợc nhu cầu của thị trƣờng là việc làm hết sức cần thiết, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất cho ngƣời nông dân hoặc trƣớc khi đƣa vào sản xuất đại trà. Xuất phát từ những yêu cầu và cơ sở thực tiễn nêu trên chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ đến sinh trưởng, phát triển của giống bí đỏ Goldstar998 trong vụ xuân năm 2016 tại Trường Đại học Nông lâm Thái nguyên”.
Mục đích, yêu cầu của đề tài 1. Mục đích Nghiên cứu đặc điểm sinh trƣởng, phát triển về thời vụ đến năng suất của giống bí đỏ Goldstar 998 nhằm mục đích nghiên cứu đƣợc tiềm năng kinh tế của giống bí phục vụ cho sản xuất và nhu cầu của thị trƣờng. Yêu cầu - Theo dõi các giai đoạn sinh trƣởng, phát triển của từng thời vụ giống bí đỏ GOLDSTAR998 trong điều kiện vụ Xuân năm 2016 tại Thái Nguyên. - Nghiên cứu một số đặc tính chống chịu của giống bí đỏ thí nghiệm trong từng thời vụ (chống chịu sâu, bệnh…).
- Xác định các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống bí đỏ tham gia thí nghiệm thời vụ. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Từ kết quả nghiên cứu của đề tài là bƣớc đầu đánh giá đƣợc khả năng thích ứng về thời vụ của giống bí đỏ GOLDSTAR998 trong vụ Xuân tại Thái Nguyên, là cơ sở cho việc lựa chọn thời vụ trồng bí cho khu vực và sản xuất đại trà. Ý nghĩa trong thực tiễn Giúp sinh viên củng cố kiến thức thực hành, bố trí thí nghiệm đồng ruộng và kỹ thuật chăm sóc và bố trí thời vụ cây trồng.
Giúp sinh viên nắm đƣợc cách thu thập, xử lí số liệu, trình bày báo cáo của một chuyên đề tốt nghiệp. Trên cở sở những kiến thức nắm đƣợc sẽ là hành trang phục vụ cho công việc của sinh viên sau khi ra trƣờng. 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Trong sản xuất nông nghiệp, giống là tƣ liệu để duy trì và phát triển sản xuất, qua đó mỗi giống đều thích ứng với mỗi thời vụ khác nhau.
Thời vụ có vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao năng suất và sản lƣợng cây trồng, cần nghiên cứu và chọn lọc một cách kỹ lƣỡng, xác định thời vụ trồng hợp lí trƣớc khi đƣa vào sản xuất đại trà. Ngày nay sản xuất bí đỏ muốn phát triển theo hƣớng hàng hoá với sản lƣợng cao, quy mô lớn nhằm đáp ứng nhu cầu thị trƣờng, cần phải có các biện pháp hữu hiệu nhƣ xác định thời vụ thích hợp để đạt năng suất cao, chống chịu tốt. Vì vậy, ngoài các biện pháp kỹ thật canh tác, việc xác định thời vụ cũng ảnh hƣởng rất lớn đến khả năng sinh trƣởng, phát triển và năng suất của bí đỏ. Nguồn gốc, sự phân bố, đặc điểm thực vật học của bí đỏ và giá trị sử dụng của bí đỏ Nguồn gốc và sự phân bố: Bí đỏ gồm 25 loài nhƣng phát triển phổ biến nhất ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới là các loài Cucurbita pepovà Cucurbita moschata, còn loài Cucurbita maxima và Cucurbita mixta thích hợp ở vùng ôn đới có khí hậu mát.
Trong một thời gian dài, nguồn gốc của bí đỏ là chủ đề gây tranh cãi. Tuy nhiên theo nhiều báo cáo nghiên cứu khoa học cho thấy, bí đỏ có nguồn gốc từ Trung Mỹ và Nam Mỹ. Có nhiều nghiên cứu khảo cổ chỉ ra rằng: Loài Cucurbita pepo phân bố rộng khắp ở các vùng bắc Mexico và tây nam Hoa Kỳ từ 7000 năm trƣớc Công nguyên. Các loại bí hỗn hợp đã đƣợc ghi chép lại ở các thời kỳ tiền Columbus.
Loài Cucurbita moschata đã xuất hiện ở Mexico 5 và Peru từ hàng ngàn năm nay. Ở Peru các nhà khảo cổ đã tìm đƣợc các mẫu hạt bí đỏ có niên đại 4000 năm trƣớc Công nguyên. Loài Cucurbita mixta cũng đƣợc tìm thấy bởi các nhà khảo cổ khi khai quật ở Peru có niên đại khoảng 1200 năm trƣớc Công nguyên [7]. Bí đỏ đƣợc những ngƣời dân ở Bắc Mỹ thuần hóa trồng và sử dụng nhƣ một nguồn thức ăn chính.
Đến thế kỷ XVI, khi những ngƣời da trắng đến định cƣ và từ đó bí đỏ đƣợc chuyển qua các nƣớc châu Âu và dần trở thành phổ biến nhƣ ngày nay [8]. Một số tài liệu khác cho rằng bí đỏ cũng nhƣ các cây bầu bí khác có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới châu Phi, châu Mỹ, nam châu Á (Ấn Độ, Malacca, nam Trung Quốc) do vậy yêu cầu về nhiệt độ để sinh trƣởng và phát triển cao hơn các loại rau ăn quả khác nhƣ cà chua. Phân loại thực vật bí đỏ: Bộ bầu bí (Cucurbitales) là một bộ thực vật có hoa, nằm trong nhánh hoa Hồng (Rosids) của thực vật 2 lá mầm thực sự (Eudicotyledoneae).Bộ này chủ yếu có mặt tại khu vực nhiệt đới và một lƣợng rất ít tại khu vực cận nhiệt đới và ôn đới. Bộ này có một số ít các loại cây bụi hay cây thân gỗ còn chủ yếu lá cây thân thảo hay dây leo.
Một trong các đặc trƣng đáng chú ý của bộ bầu bí (Cucurbitales) là hoa đơn tính, phần lớn là 5 cánh, với các cánh hoa nhọn và dày [8].Thụ phấn chủ yếu nhờ côn trùng, nhƣng cũng có thể nhờ gió nhƣ các họ Coriariaceae và Datiscaceae. Bộ này có khoảng 2.300 loài trong 7 họ và 129 chi. Các họ lớn nhất là họ thu hải đƣờng (Begoniaceae) với 1400 loài trong 2-3 chi và họ Bầu bí (Cucurbitaceae) với 285-845 loài trong 118 chi [10]. Dƣới đây là phân loại bộ bầu bí đƣợc lấy theo APG II: 6 Anisophylleaceae Corynocarpaceae Coriariaceae Cucurbitaceae Tetramelaceae Datiscaceae Begonniaceae Hình 2.Sơ đồ phân loại bộ bầu bí Họ bầu bí (Cucurbitaceae) là một họ thực vật bao gồm dƣa hấu (Citrullus), dƣa chuột (Cucumis), bí đao (Benincasa), bầu (Lagenaria), bí ngô (Cucurbita), mƣớp (Luffa), mƣớp đắng (Momordica)… Bí đỏ hay bí ngô là tên thông dụng để chỉ các loại cây thuộc các loài Cucurbita pepo, Cucurbita mixta, Cucurbitamaxima và Cucurbita moschata [12].
Họ bầu bí là một trong những họ quan trọng nhất cung cấp thực phẩm trên thế giới. Phần lớn các loài trong họ này là các loại dây leo sống một năm với hoa khá lớn và có máu sắc sặc sỡ [10]. Họ bầu bí (Cucurbitaceae): Phân bố rộng khắp trên thế giới tuy nhiên tập trung chủ yếu tại khu vực nhiệt đới và ôn đới. 7 Đặc điểm thực vật học - Rễ bí đỏ Hệ thống rễ của bí đỏ phát triển rất mạnh.
Rễ chính có thể ăn sâu tới 2m, khả năng tái sinh của rễ chính kém. Rễ phụ ăn lan rộng và phát triển mạnh ở tầng đất mặt, rễ phụ có khả năng ăn rộng tới 6 mét đƣờng kính. Cây có nhiều rễ bất định đƣợc mọc ra ở các đốt trên thân. Do có hệ thống rễ phát triển mạnh nên bí đỏ có khả năng chịu hạn tốt, tuy nhiên lại chịu úng kém.
Cây có khả năng phát triển trên đất hơi phèn hoặc mặn [18]. - Thân bí đỏ Thân leo hoặc bò có tua cuốn, thân dài từ 2-10m. Độ dài ngắn, tròn hay có gốc cạnh của thân tùy thuộc vào đặc điểm của giống. Thân có khả năng ra rễ bất định ở đốt.
Tua cuốn phân nhánh mọc ở đốt thân. Thân mọc chậm ở giai đoạn đầu khoảng ba tuần sau khi gieo. Bên trong thân rỗng và xốp, bên ngoài thân có nhiều lông tơ. Các nhánh đƣợc sinh ra từ đốt trên thân.
Các lóng trên thân phát triển rất nhanh [18]. - Lá bí đỏ Lá mầm to có dạng hình trứng. Trong điều kiện chăm sóc tốt, các lá mầm có thể kéo dài tuổi thọ đến hết thời gian sinh trƣờng của cây. Lá đơn, mọc cách, cuống dài, phiến lá rộng, tròn hay góc cạnh, có xẻ thùy sâu hay nông tùy giống, màu xanh hoặc lốm đốm trắng… Diện tích mặt lá lớn nên có khả năng quang hợp mạnh.
Trên bề mặt lá có nhiều lông tơ bao phủ nên hạn chế khả năng tiêu thụ nƣớc [18]. - Hoa bí đỏ Hoa đơn tính to cánh màu vàng, thụ phấn nhờ côn trùng. Số lƣợng hoa đực nhiều hơn hoa cái từ 10-30 lần. Hoa nằm đơn độc ở nách lá.
Hoa có cánh màu vàng đậm, có bầu noãn hạ, cuống hoa dài, phần lớn hoa nở vào buổi sáng. Quả phát triển nhanh sau khi hoa cái nở. Khi nở hoa hƣớng lên trên 8 nhƣng quả phát triển hƣớng xuống.Trong điều kiện khí hậu không thuận lợi cây sinh ra hoa lƣỡng tính hoặc hoa đực bất thụ [11].