Luận văn thạc sĩ ueh nghiên cứu ảnh hưởng của phong cách lãnh đạo lên sự tận tâm của người lao động trong các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành luận văn thạc sĩ

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ueh nghiên cứu ảnh hưởng của phong cách lãnh đạo lên sự tận tâm của người lao động trong các doanh, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2013

143
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1.1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4. Phương pháp nghiên cứu

1.5. Kết cấu của luận văn

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1. Lý thuyết về lãnh đạo

2.1.1. Khái niệm lãnh đạo

2.1.2. Khái niệm phong cách lãnh đạo

2.1.3. Quá trình phát triển của lý thuyết lãnh đạo

2.1.4. Đo lường phong cách lãnh đạo theo quan điểm của Bass

2.1.5. Thang đo lãnh đạo đa thành phần MLQ – Form 6S

2.2. Lý thuyết về sự tận tâm với tổ chức

2.2.1. Khái niệm sự tận tâm với tổ chức

2.2.2. Các thành phần của sự tận tâm với tổ chức

2.2.3. Thành phần tận tâm tổ chức theo quan niệm của Meyer và Allen

2.2.4. Thang đo sự tận tâm tổ chức của Meyer và Allen

2.3. Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài

2.4. Mối quan hệ giữa phong cách lãnh đạo và sự tận tâm tổ chức

2.5. Mô hình nghiên cứu

2.6. Giả thuyết nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

3.1. Quy trình nghiên cứu

3.2. Thiết kế nghiên cứu sơ bộ

3.2.1. Xây dựng thang đo nháp

3.2.2. Thảo luận chuyên gia

3.2.3. Tiến hành nghiên cứu sơ bộ

3.3. Thiết kế nghiên cứu chính thức

3.3.1. Thiết kế mẫu nghiên cứu

3.3.2. Phương pháp chọn mẫu và điều tra thu thập thông tin

3.3.3. Phân tích và kiểm định kết quả nghiên cứu

4. CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Mô tả mẫu

4.2. Kiểm định sơ bộ thang đo

4.2.1. Hệ số tin cậy các thành phần thang đo phong cách lãnh đạo mới về chất

4.2.2. Hệ số tin cậy các thành phần của thang đo phong cách lãnh đạo giao dịch

4.2.3. Hệ số tin cậy các thành phần của thang đo sự tận tâm tổ chức

4.3. Kiểm định thang đo bằng phân tích nhân tố khám phá (EFA)

4.3.1. EFA thang đo lãnh đạo

4.3.2. EFA thang đo sự tận tâm tổ chức

4.4. Điều chỉnh mô hình và các giả thuyết

4.5. Thống kê mô tả phong cách lãnh đạo và sự tận tâm tổ chức

4.5.1. Phong cách lãnh đạo

4.5.2. Sự tận tâm tổ chức

4.6. Phân tích hồi quy

4.6.1. Đánh giá tác động của các biến phong cách lãnh đạo IMII, IC, IS, CR, MBE lên sự tận tâm vì tình cảm (AC) – mô hình 1

4.6.1.1. Xây dựng mô hình
4.6.1.2. Kiểm tra các giả định
4.6.1.3. Đánh giá độ phù hợp, kiểm định độ phù hợp của mô hình

4.6.2. Đánh giá tác động của các biến phong cách lãnh đạo IMII, IC, IS, CR, MBE lên sự tận tâm vì lợi ích (CC) – mô hình thứ hai

4.6.2.1. Xây dựng mô hình
4.6.2.2. Kiểm tra các giả định
4.6.2.3. Đánh giá độ phù hợp, kiểm định độ phù hợp của mô hình

4.6.3. Đánh giá tác động của các biến phong cách lãnh đạo IMII, IC, IS, CR, MBE lên sự tận tâm vì đạo đức (NC) – mô hình thứ ba

4.6.3.1. Xây dựng mô hình
4.6.3.2. Kiểm tra các giả định
4.6.3.3. Đánh giá độ phù hợp, kiểm định độ phù hợp của mô hình

4.7. Kiểm định sự khác biệt về mức độ tận tâm tổ chức theo giới tính lãnh đạo

4.7.1. Kiểm định sự khác biệt về tận tâm tổ chức của nhân viên theo giới tính lãnh đạo thông qua yếu tố truyền cảm hứng và ảnh hưởng

4.7.2. Kiểm định sự khác biệt về tận tâm tổ chức của nhân viên theo giới tính lãnh đạo thông qua yếu tố quan tâm từng cá nhân

4.7.3. Kiểm định sự khác biệt về tận tâm tổ chức của nhân viên theo giới tính lãnh đạo thông qua yếu tố kích thích trí tuệ

4.7.4. Kiểm định sự khác biệt về tận tâm tổ chức của nhân viên theo giới tính lãnh đạo thông qua yếu tố khen thưởng

4.7.5. Kiểm định sự khác biệt về tận tâm tổ chức của nhân viên theo giới tính lãnh đạo thông qua yếu tố quản lý bằng ngoại lệ

4.8. Tóm tắt kết quả phân tích hồi quy và kiểm định các giả thuyết

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT HÀM Ý QUẢN TRỊ

5.1. Kết quả nghiên cứu

5.1.1. Thực tiễn về thực hành phong cách lãnh đạo và thực tiễn tận tâm với tổ chức của người lao động trong các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành Việt Nam

5.1.2. Phong cách lãnh đạo

5.1.3. Sự tận tâm với tổ chức

5.1.4. Ảnh hưởng của các thành phần của phong cách lãnh đạo lên các thành phần của sự tận tâm tổ chức

5.2. Hàm ý quản trị

5.2.1. Xây dựng thành phần lãnh đạo bằng quan tâm đến từng cá nhân

5.2.2. Xây dựng thành phần lãnh đạo bằng kích thích trí tuệ

5.2.3. Xây dựng thành phần lãnh đạo bằng khen thưởng

5.3. Đóng góp của đề tài nghiên cứu

5.4. Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo

5.5. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về ảnh hưởng phong cách lãnh đạo đến sự tận tâm của nhân viên

Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích mối quan hệ giữa phong cách lãnh đạosự tận tâm của nhân viên trong các doanh nghiệp lữ hành. Sự tận tâm của nhân viên không chỉ là yếu tố quan trọng trong việc duy trì hiệu quả làm việc mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của tổ chức. Các nhà quản lý cần hiểu rõ cách mà phong cách lãnh đạo của họ tác động đến động lực làm việc và sự gắn bó của nhân viên.

1.1. Khái niệm phong cách lãnh đạo và sự tận tâm của nhân viên

Phong cách lãnh đạo được định nghĩa là cách mà một nhà lãnh đạo tương tác và ảnh hưởng đến nhân viên. Sự tận tâm của nhân viên là mức độ cam kết và lòng trung thành của họ đối với tổ chức. Nghiên cứu cho thấy rằng phong cách lãnh đạo có thể tạo ra môi trường làm việc tích cực, từ đó nâng cao sự tận tâm của nhân viên.

1.2. Tầm quan trọng của sự tận tâm trong doanh nghiệp lữ hành

Trong ngành lữ hành, sự tận tâm của nhân viên đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ chất lượng cao. Nhân viên tận tâm sẽ tạo ra trải nghiệm tốt cho khách hàng, từ đó nâng cao uy tín và thương hiệu của doanh nghiệp. Điều này cũng giúp giảm thiểu tỷ lệ nghỉ việc và chi phí tuyển dụng.

II. Vấn đề và thách thức trong việc duy trì sự tận tâm của nhân viên

Mặc dù sự tận tâm của nhân viên là yếu tố quan trọng, nhưng nhiều doanh nghiệp lữ hành vẫn gặp phải thách thức trong việc duy trì nó. Các vấn đề như áp lực công việc, thiếu sự công nhận và hỗ trợ từ lãnh đạo có thể dẫn đến sự giảm sút trong sự tận tâm của nhân viên.

2.1. Áp lực công việc và ảnh hưởng đến sự tận tâm

Nhân viên trong ngành lữ hành thường phải đối mặt với áp lực công việc cao, đặc biệt trong mùa du lịch cao điểm. Áp lực này có thể làm giảm động lực làm việc và sự tận tâm của họ đối với tổ chức.

2.2. Thiếu sự công nhận từ lãnh đạo

Khi nhân viên không nhận được sự công nhận và khen thưởng từ lãnh đạo, họ có thể cảm thấy không được đánh giá cao. Điều này có thể dẫn đến sự giảm sút trong sự tận tâm và hiệu suất làm việc của họ.

III. Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng phong cách lãnh đạo đến sự tận tâm

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp định lượng để phân tích mối quan hệ giữa phong cách lãnh đạosự tận tâm của nhân viên. Dữ liệu được thu thập từ bảng hỏi gửi đến nhân viên trong các doanh nghiệp lữ hành tại TP. HCM.

3.1. Thiết kế bảng hỏi và thu thập dữ liệu

Bảng hỏi được thiết kế để đo lường các yếu tố của phong cách lãnh đạo và sự tận tâm của nhân viên. Dữ liệu được thu thập từ các doanh nghiệp lữ hành lớn tại TP. HCM, đảm bảo tính đại diện cho mẫu nghiên cứu.

3.2. Phân tích dữ liệu và kiểm định giả thuyết

Dữ liệu thu thập được sẽ được phân tích bằng phần mềm SPSS để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu. Phân tích hồi quy sẽ được sử dụng để xác định mối quan hệ giữa phong cách lãnh đạo và sự tận tâm của nhân viên.

IV. Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng phong cách lãnh đạo

Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa phong cách lãnh đạo và sự tận tâm của nhân viên. Các phong cách lãnh đạo như lãnh đạo giao dịch và lãnh đạo chuyển đổi đều có ảnh hưởng đáng kể đến sự tận tâm của nhân viên trong doanh nghiệp lữ hành.

4.1. Ảnh hưởng của lãnh đạo giao dịch đến sự tận tâm

Phong cách lãnh đạo giao dịch, với sự tập trung vào khen thưởng và công nhận, đã cho thấy có tác động tích cực đến sự tận tâm của nhân viên. Nhân viên cảm thấy được đánh giá cao và có động lực làm việc hơn.

4.2. Ảnh hưởng của lãnh đạo chuyển đổi đến sự tận tâm

Lãnh đạo chuyển đổi, với khả năng truyền cảm hứng và tạo động lực cho nhân viên, cũng đã được chứng minh là có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự tận tâm của nhân viên. Nhân viên cảm thấy gắn bó hơn với tổ chức khi họ được lãnh đạo bởi những người có tầm nhìn và khả năng truyền cảm hứng.

V. Kết luận và hàm ý quản trị cho doanh nghiệp lữ hành

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng phong cách lãnh đạo có ảnh hưởng lớn đến sự tận tâm của nhân viên trong các doanh nghiệp lữ hành. Các nhà quản lý cần nhận thức rõ về phong cách lãnh đạo của mình và điều chỉnh để nâng cao sự tận tâm của nhân viên.

5.1. Đề xuất cải thiện phong cách lãnh đạo

Các nhà quản lý nên áp dụng phong cách lãnh đạo giao dịch và chuyển đổi để tạo ra môi trường làm việc tích cực. Việc công nhận và khen thưởng nhân viên sẽ giúp nâng cao sự tận tâm của họ.

5.2. Tương lai của nghiên cứu về phong cách lãnh đạo

Nghiên cứu trong tương lai có thể mở rộng ra các lĩnh vực khác ngoài doanh nghiệp lữ hành để tìm hiểu sâu hơn về mối quan hệ giữa phong cách lãnh đạo và sự tận tâm của nhân viên trong các ngành nghề khác.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh nghiên cứu ảnh hưởng của phong cách lãnh đạo lên sự tận tâm của người lao động trong các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành luận văn thạc sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Mục đích của chương 2 là trình bày cơ sở lý thuyết về lãnh đạo, quá trình phát triển của các lý thuyết lãnh đạo, lý thuyết về sự tận tâm với tổ chức, xây dựng mô hình nghiên cứu và phát biểu các giả thuyết nghiên cứu.1 Lý thuyết về lãnh đạo 2.1 Khái niệm lãnh đạo Sự lãnh đạo đã xuất hiện hàng ngàn năm nay nhưng cho đến nay chưa có một ai đủ khả năng đưa ra một khái niệm lãnh đạo đầy đủ được sự đồng tình của tất cả mọi người. Lãnh đạo là một khái niệm phức tạp, được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau: kinh doanh, phi lợi nhuận, giáo dục, đạo giáo,… Và kết quả là khái niệm lãnh đạo phụ thuộc rất nhiều vào bối cảnh được ứng dụng (Covey, 2007). Vậy lãnh đạo là gì? Câu trả lời sẽ tùy thuộc vào người được hỏi là ai và cách nhìn nhận sự vật của họ như thế nào? Chính vì vậy, trong lịch sử nghiên cứu về lãnh đạo con số khái niệm lãnh đạo là không thể thống kê hết.

Sau đây, tác giả xin tóm tắt một số khái niệm về lãnh đạo của một số nhà nghiên cứu như trong bảng 2.1: Các khái niệm lãnh đạo Tác giả Khái niệm lãnh đạo Burns, 1978 “Khi con người huy động thể chế, chính trị, tâm lý và các tài nguyên khác nhằm đánh thức, động viên và thỏa mãn động cơ của cấp dưới”. Richards và Engle, 1986 “Là việc thiết lập tầm nhìn, giá trị và tạo môi trường thuận lợi nhất để có thể hoàn thành mục tiêu”. House và cộng sự, 1999 “Là khả năng của một cá nhân nhằm gây ảnh hưởng, thúc đẩy, và có thể làm cho mọi người góp phần vào hiệu quả và thành công của tổ chức”. Nguồn: Yukl, 2006 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Khái niệm phong cách lãnh đạo Phong cách lãnh đạo của một cá nhân là dạng hành vi người đó thể hiện khi thực hiện các nỗ lực ảnh hưởng tới hoạt động của những người khác theo nhận thức của đối tượng (Nguyễn Hữu Lam, 2007).

Có nhiều mô hình phong cách lãnh đạo khác nhau, mỗi mô hình có ưu điểm và nhược điểm riêng của nó. Trong nghiên cứu này, tác giả dựa trên lý thuyết phong cách lãnh đạo mới về chất và phong cách lãnh đạo giao dịch trong mô hình lãnh đạo đầy đủ 1985 làm nền tảng.3 Quá trình phát triển của lý thuyết lãnh đạo Nghiên cứu về lãnh đạo phát triển từ những năm đầu của thế kỷ 20. Những nghiên cứu sơ khai chủ yếu tập trung vào nghiên cứu những phẩm chất của nhà lãnh đạo; những nghiên cứu theo sau tập trung vào hành vi của nhà lãnh đạo và những nhà nghiên cứu sau này chủ yếu nghiên cứu về lãnh đạo theo tình huống. Trong giai đoạn gần đây, lý thuyết lãnh đạo được quan tâm nhiều nhất là lãnh đạo đa thành phần.

Những nghiên cứu đầu tiên về lãnh đạo chủ yếu tìm kiếm những phẩm chất thiên bẩm của nhà lãnh đạo (Bass, 1990). Các nghiên cứu tập trung vào những nhóm nhân tố như: (a) những nhân tố vật lý: tuổi tác, chiều cao, cân nặng, thể chất và ngoại hình; (b) nhân tố kỹ năng: nói lưu loát, giọng điệu, thành tích học thuật, thông minh, phán xét và ra quyết định, tầm nhìn sâu sắc và sáng tạo; (c) những nhân tố cá nhân như: làm chủ cảm xúc, tự tin… (Bass, 1990). Các nhà nghiên cứu thuyết phẩm chất cố gắng tìm và liệt kê ra những phẩm chất nào mà nếu sở hữu chúng thì người đó sẽ trở thành nhà lãnh đạo. Điều này dẫn đến hệ quả là một bảng liệt kê những phẩm chất của nhà lãnh đạo ngày càng dài.

Stogdill (1948) tổng hợp và phân tích hơn 124 nghiên cứu về phẩm chất mà được thực hiện từ 1904 đến 1947. Ông cho rằng một cá nhân không thể trở thành lãnh đạo đơn giản chỉ khi họ có những phẩm chất nhất định nào đó. Những phẩm chất phải phù hợp với từng tình huống cụ thể. Nghiên cứu này đã đánh dấu một bước mới cho cách tiếp cận tình huống và hành vi.

Theo kết quả tổng hợp lần 2 của Stogdill (1974) trích trong Saqer (2009) thì Ông đã tổng hợp 163 nghiên cứu (thực hiện từ năm 1948 đến năm 1970) về thuyết LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 phẩm chất. Stogdill so sánh kết quả tổng hợp lần hai với kết quả tổng hợp lần một năm 1948 và đưa ra kết luận rằng các nghiên cứu về phẩm chất lãnh đạo tạo ra những kết quả không nhất quán với nhau vì sự kết hợp của các phẩm chất lãnh đạo hiệu quả đối với nhóm những nhà lãnh đạo này nhưng lại không mang lại hiệu quả cho nhóm nhà lãnh đạo khác. Chính vì vậy, Stogdill kết luận rằng nghiên cứu về lãnh đạo không chỉ dừng ở nghiên cứu con người mà cần phải nghiên cứu đến tình huống. Hạn chế của lý thuyết phẩm chất dẫn đến sự ra đời của nhiều nghiên cứu về hành vi lãnh đạo và những nghiên cứu về hành vi phát triển mạnh trong giai đoạn những năm cuối 1940 đến suốt những năm 1960.

Thuyết hành vi khác xa so với thuyết phẩm chất ở điểm nó nhấn mạnh vào nghiên cứu hành động của nhà lãnh đạo chứ không dừng ở việc các nhà lãnh đạo ngồi nhìn cấp dưới hành động như thế nào. Nếu như thuyết phẩm chất cho rằng nhà lãnh đạo là thiên bẩm thì lý thuyết hành vi cho rằng năng lực lãnh đạo có thể do học tập mà nên hay nói cách khác là con người có thể tự rèn luyện những phẩm chất, kỹ năng cần thiết để trở thành nhà lãnh đạo. Các nhà nghiên cứu lý thuyết hành vi nỗ lực giải thích hành vi nhiệm vụ và hành vi mối quan hệ tác động lên nhân cách như thế nào để có thể giúp nhà lãnh đạo đạt được mục tiêu tổ chức thông qua nhóm. Mô hình hành vi nổi tiếng như thuyết X, thuyết Y của MrGregor (1960), mô hình Đại học Michigan bang Ohio và mô hình lưới quản trị của Blake và Moutton (1964).

Mặc dù lý thuyết hành vi có bước đột phá so với thuyết phẩm chất, nó chuyển từ cách tiếp cận nhà lãnh đạo là ai sang nhà lãnh đạo hành động như thế nào? Thuyết hành vi cho rằng lãnh đạo có thể được đào tạo. Nếu thực hiện việc đào tạo đúng, chúng ta sẽ có được lực lượng lãnh đạo vô hạn, theo Robbin (1996) trích trong Saqer (2009). Tuy nhiên, những hành vi phù hợp trong tình huống này có thể không phù hợp trong những tình huống khác. Một bước tiến mới trong nghiên cứu lãnh đạo là sự ra đời những mô hình lãnh đạo theo tình huống ngẫu nhiên.

Mô hình lãnh đạo ngẫu nhiên được phát triển đầu tiên bởi Fred Fiedler (1967). Mô hình lãnh đạo ngẫu nhiên chỉ ra rằng thành tích nhóm phụ thuộc vào sự hòa hợp giữa phong cách lãnh đạo và mức độ kiểm soát tình huống của nhà lãnh đạo, theo Fiedler (1967) trích trong Bass và Riggio (1993). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Lý thuyết lãnh đạo tình huống của Paul Hersey và Ken Blanchard’s (1969) cho rằng nhà lãnh đạo nên thay đổi hành vi lãnh đạo theo mức độ trưởng thành của nhân viên và tác giả chia hành vi lãnh đạo thành 2 thành phần: hành vi chỉ đạo và hành vi hỗ trợ. Thuyết tình huống bổ sung thêm yếu tố cần phải xem xét khi nghiên cứu về lãnh đạo, đó là tầm quan trọng của tình huống.

Song thuyết tình huống cũng có những vấn đề tồn tại như không giải thích được mối quan hệ giữa tình huống và phong cách lãnh đạo một cách đầy đủ. Cho nên, từ những năm 1970 đến nay, giới nghiên cứu quan tâm đến thuyết lãnh đạo hiện đại một cách rộng rãi. Thuật ngữ “lãnh đạo mới về chất” được đặt ra đầu tiên bởi J. Và khái niệm lãnh đạo mới về chất được giới thiệu lần đầu bởi Burns năm 1978 trong nghiên cứu về lãnh đạo chính trị của ông.

Burns (1978) cho rằng lãnh đạo mới về chất không phải là một tập hợp những hành vi riêng biệt mà là quá trình các sự việc diễn ra liên tục (ongoing process) trong đó các nhà lãnh đạo và nhân viên tương tác lẫn nhau làm tăng mức độ của đạo đức và sự thúc đẩy. Theo quan điểm của Burns, lãnh đạo mới về chất không những tạo ra sự thay đổi và đạt được mục tiêu trong môi trường tổ chức mà nó còn giúp con người thay đổi cả những hành động cần thiết để làm cho cả nhà lãnh đạo và nhân viên giàu có hơn, cao thượng hơn. Năm 1978, Burns đưa ra sự so sánh giữa hai khái niệm lãnh đạo mới về chất và lãnh đạo giao dịch. Ông cho rằng lãnh đạo giao dịch xuất hiện khi một cá nhân xây dựng sự liên kết với người khác chỉ vì mục đích trao đổi những thứ giá trị.

Lãnh đạo mới về chất xuất hiện khi một người hoặc nhiều người cam kết với những người khác theo cách này những nhà lãnh đạo và các nhân viên tăng động lực và đạo đức của mỗi người lên mức độ cao hơn. Và lãnh đạo mới về chất hiệu quả hơn lãnh đạo giao dịch vì lãnh đạo giao dịch chỉ chú trọng lợi ích cá nhân trong khi lãnh đạo mới về chất khuyến khích tinh thần hợp tác vì lợi ích chung của nhóm, của tổ chức. Tiếp nối Burns, Bass tiếp tục phát triển thuyết lãnh đạo mới về chất. Ông định nghĩa lãnh đạo mới về chất bằng cách trả lời những câu hỏi: lãnh đạo ảnh hưởng đến nhân viên bằng cách nào? Những ai sẽ tin tưởng, ngưỡng mộ và tôn trọng những nhà lãnh đạo mới về chất? LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Các thuyết lãnh đạo đã và đang phát triển theo xu hướng thuyết ra đời sau kế tục và hoàn thiện hơn thuyết trước.

Theo tôi, lãnh đạo trong giai đoạn thị trường mở và trình độ nhân viên trong các doanh nghiệp lữ hành khá cao đòi hỏi nhà lãnh đạo phải biết kết hợp một cách khéo léo việc mang lại cho nhân viên những giá trị vật chất và tinh thần. Nhà lãnh đạo cần hết sức tạo điều kiện cho nhân viên những phần thưởng vật chất và tạo cho họ một môi trường làm việc sáng tạo, không theo một khuôn mẫu cứng nhắc nhưng cũng không phải là tự do không lãnh đạo. Nhà lãnh đạo nên phát huy tối đa năng lực riêng của từng cá nhân nhằm tạo một sức mạnh chung đạt được mục tiêu chung của nhóm. Có như thế mới có thể làm cho nhân viên cảm thấy công ty là ngôi nhà thứ hai của họ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ